Mùi khí ga rò rỉ nồng nặc bóp nghẹt buồng phổi, nối tiếp theo đó là một tiếng nổ chát chúa xé toạc màng nhĩ. Ánh sáng trắng bùng lên, nuốt chửng toàn bộ tầm nhìn. Khối nhiệt lượng khổng lồ ập đến, hất văng bệ bếp bằng thép không gỉ nặng hàng tạ đập thẳng vào ngực tôi. Cảm giác đau đớn chỉ kéo dài chưa tới một phần mười giây, ngắn ngủi đến mức não bộ còn chưa kịp phát ra tín hiệu kêu cứu.
Mọi người đừng quên ấn chuông theo dõi cho Phở nha, truyện được lên sóng vào lúc năm giờ chiều hằng ngày.
Sau đó, mọi thứ chìm vào khoảng không vô tận.
Khi tôi mở mắt ra lần nữa, xung quanh tĩnh lặng đến mức có thể nghe thấy tiếng tro tàn rơi lả tả. Căn bếp của nhà hàng Hoài Lương Quán, nơi chưa đầy năm phút trước còn là một không gian chật chội đầy ắp mùi dầu mỡ và gia vị, giờ đây chỉ còn là một đống đổ nát đen ngòm. Những mảng tường gạch xám đặc trưng của phố cổ bị thổi bay quá nửa, phơi bày bộ khung thép cháy dở cong queo như những ngón tay khô khốc đang cào lên bầu trời đêm vô trăng.
Tôi cúi đầu nhìn xuống bàn tay mình. Không có vết xước nào. Không có máu. Làn da nhợt nhạt đến mức gần như trong suốt, phát ra một thứ ánh sáng mờ ảo nhờ nhờ. Tôi thử cử động ngón tay. Vẫn rất linh hoạt.
Tôi bước lên phía trước một bước. Không có âm thanh đế giày ma sát với mặt sàn. Nhìn kỹ lại, hai bàn chân tôi đang lơ lửng cách mặt đất chừng ba xen ti mét. Khái niệm trọng lực dường như đã gạt tên tôi ra khỏi danh sách quản lý của nó.
Tôi vươn tay định nắm lấy tay nắm cửa bằng đồng thau văng lóc cóc dưới đất. Khoảnh khắc những ngón tay tôi chạm vào bề mặt kim loại, chúng không hề cảm nhận được sự lạnh lẽo hay cứng rắn. Bàn tay tôi xuyên thẳng qua khối đồng thau, giống như việc bạn cố dùng tay vớt một vệt nắng in trên mặt nước. Trống rỗng. Vô vọng.
Cảm giác hoang mang bắt đầu lan tỏa trong lồng ngực, nơi đáng lý ra phải có một trái tim đang đập liên hồi. Tôi lướt qua đống gạch vụn, tiến về phía nhà vệ sinh dành cho nhân viên ở cuối hành lang, nơi may mắn thay vẫn còn sót lại một nửa tấm gương treo tường chưa bị vỡ nát.
Tôi đứng trước gương. Hình ảnh phản chiếu bên trong khiến tôi đông cứng toàn thân.
Người con gái trong gương có khuôn mặt của tôi, mái tóc đen cột vội của tôi, nhưng đôi mắt lại hoàn toàn xa lạ. Tròng mắt không còn lòng trắng hay con ngươi đen láy, mà rực lên một sắc đỏ rực rỡ như than hồng trong lò nướng bít tết. Ánh sáng đỏ ấy lập lòe, ma mị, tỏa ra một luồng khí tức lạnh lẽo đến thấu xương.
Nhưng đó chưa phải là điều tồi tệ nhất.
Tôi cúi xuống nhìn trang phục của mình. Chiếc tạp dề bà ngoại để lại, vốn dĩ là màu đỏ đô sậm màu vì giặt giũ nhiều năm, giờ đây đỏ chói lọi, đỏ tươi như máu vừa rớt ra khỏi động mạch. Màu đỏ ấy không đứng im. Nó bồng bềnh, uốn lượn quanh thân thể tôi như những ngọn lửa đang khiêu vũ.
Tôi, Diệp Noãn Noãn, hai mươi ba tuổi, thần đồng xắt hành tây của Hoài Lương Quán, đã chết. Chết một cách cực kỳ lãng xẹt vì gã quản lý keo kiệt phớt lờ đường ống ga rò rỉ suốt ba tháng ròng rã.
Và giờ đây, tôi biến thành một con ma. Một con ma phát sáng.
Làm ma rồi mới biết một sự thật cay đắng: tôi, một sinh vật thuộc về bóng tối, lại cực kỳ sợ bóng tối. Cảm giác này giống hệt như việc bạn là đầu bếp nhưng lại dị ứng với hành tỏi vậy. Thật sự vô dụng. Tôi ôm lấy hai cánh tay, thu mình vào một góc tường đổ nát, cố gắng tiêu hóa hiện thực nghiệt ngã này.
“Trời ạ, nồi thịt kho tàu ban nãy mình vừa châm thêm nước hàng! Chắc chắn là cháy khét lẹt rồi!”
Đó là suy nghĩ đầu tiên nảy lên trong đầu tôi. Bạn thấy đấy, có những người khi đối mặt với cái chết sẽ nghĩ về ý nghĩa nhân sinh, về vũ trụ bao la, hay về những món nợ chưa trả. Còn tôi, tôi chỉ xót xa cho nồi thịt kho thịt ba chỉ mỡ nạc đan xen hoàn hảo mà tôi đã cất công canh lửa suốt hai tiếng đồng hồ. Tâm hồn ăn uống đôi khi là một liều thuốc an thần cực mạnh, nó lấn át cả nỗi sợ hãi về thế giới siêu nhiên.
Tôi lững thững trôi ra khỏi đống hoang tàn của nhà hàng, tiến vào con hẻm Hoài Lương. Hẻm cổ về đêm vắng lặng như tờ. Những dãy nhà gạch xám san sát nhau, mái ngói âm dương xô lệch, vài chiếc lồng đèn giấy rách bươm đung đưa theo gió. Bình thường, tôi đi làm về khuya qua con hẻm này đều phải cắm tai nghe, bật nhạc thật to để tự trấn an. Giờ thì hay rồi, tôi chính thức gia nhập lực lượng những thứ cần phải sợ trong cái hẻm này.
Đang trôi lơ lửng bám theo bờ tường, tôi chợt ngửi thấy mùi hương nhang trầm phảng phất, pha lẫn với mùi xôi nếp cốt dừa thơm nức mũi. Bản năng của một kẻ sành ăn lập tức chiếm quyền điều khiển cơ thể. Tôi hít lấy hít để, trôi theo dải hương thơm ấy, rẽ vào một lối rẽ hẹp và dừng lại trước căn nhà số bảy.
Cánh cửa gỗ chạm trổ hoa văn cổ kính khép hờ. Tôi ngó đầu vào. Tại gian phòng khách tối om, chỉ có duy nhất ánh sáng le lói từ bàn thờ gia tiên. Ngồi trên chiếc ghế mây cạnh bàn thờ là một bà lão tóc bạc phơ, mặc bộ đồ lụa màu xám tro. Bà lão đang nhắm mắt, khuôn mặt nhăn nheo toát lên vẻ hiền từ, miệng lẩm nhẩm những giai điệu ru con cổ xưa.
Điều đáng nói là, cơ thể bà lão trong suốt y hệt tôi, thậm chí còn mờ nhạt hơn, tựa như một làn khói mỏng manh có thể bị gió thổi tan bất cứ lúc nào.
Tôi hắng giọng, cố gắng tạo ra âm thanh nhẹ nhàng nhất có thể để không làm bà lão giật mình.
“Dạ… cháu chào bà ạ. Cho cháu hỏi, xôi nếp cốt dừa này… là bà đang dùng dở đúng không ạ?”
Bà lão mở mắt. Khoảnh khắc ánh mắt bà chạm vào tôi, chính xác hơn là chạm vào chiếc tạp dề đỏ rực và đôi mắt than hồng của tôi, bà giật nảy mình, suýt nữa ngã nhào khỏi chiếc ghế mây.
“Ái chà chà! Xích Y Quỷ! Con bé này, chết lúc nào mà oán khí ngút trời thế kia? Đừng có lại gần bà, bà già rồi xương cốt lỏng lẻo, không chịu nổi một mồi lửa của cháu đâu!”
Tôi vội vã lùi lại ba bước, xua tay rối rít.
“Ấy chết, bà đừng sợ! Cháu là Noãn Noãn, đầu bếp phụ ở cuối hẻm đây mà. Cháu vừa bị nổ bình ga chết tức thì. Cháu thề cháu không cắn ai đâu, cháu chỉ thèm xôi thôi!”
Nghe thấy giọng điệu ủy mị pha chút ngốc nghếch của tôi, bà lão nheo mắt quan sát một lúc lâu, rồi thở phào nhẹ nhõm, đưa tay vuốt vuốt ngực.
“Hù chết bà già này. Làm ma mười mấy năm, lần đầu tiên thấy một Xích Y Quỷ thèm ăn xôi cốt dừa. Lại đây, ngồi xuống. Ráng thu cái sát khí lại, đỏ lòm lòm nhức hết cả mắt.”
Tôi ngoan ngoãn thu mình lại, ngồi bệt xuống thềm gạch bông lạnh lẽo. Lạ thay, khi tôi cố gắng nghĩ về những món ăn ngon, màu đỏ chói lọi trên chiếc tạp dề có vẻ dịu bớt, đôi mắt tôi cũng không còn rực lửa gắt gao.
Qua lời kể chậm rãi của bà, tôi mới biết bà tên là Trần, người gốc Hàng Châu, theo chồng chuyển đến con hẻm này từ thuở thanh xuân. Bà mất vì tuổi cao sức yếu, nhưng con cháu sau khi lo tang lễ xong thì bán quách căn nhà, chuyển lên Thượng Hải sinh sống. Không ai lập bàn thờ đàng hoàng, không ai cúng bái thường xuyên, linh hồn bà kẹt lại nơi đây, sống nhờ vào chút nhang khói le lói của người chủ mới mỗi dịp mùng một ngày rằm.
“Làm ma cũng có quy luật của nó, con bé ạ.”
Bà Trần thở dài, vươn tay chỉ vào cơ thể trong suốt của mình.
“Nếu không có người thân nhớ đến cúng bái, hoặc không tích đủ âm đức bằng cách giúp đỡ cõi âm, linh hồn sẽ mờ nhạt đi từng ngày. Đến một lúc nào đó, khi chút chấp niệm cuối cùng tan biến, chúng ta sẽ hóa thành cát bụi, vĩnh viễn không thể siêu sinh. Gọi là hồn phi phách tán.”
Tôi rùng mình. Hồn phi phách tán? Nghe còn đáng sợ hơn cả việc ăn nhầm bát phở không có bột ngọt.
“Thế còn cháu? Tại sao bà lại gọi cháu là Xích Y Quỷ?”
Tôi chỉ tay vào chiếc tạp dề của mình. Bà Trần chép miệng, ánh mắt lộ vẻ e dè.
“Con chết lúc hai giờ sáng, đúng vào giờ Sửu, thời điểm âm khí thịnh nhất. Lại mặc đồ màu đỏ tẩm đầy uất ức. Oán khí tích tụ hóa thành hỏa khí. Xích Y Quỷ là loại quỷ lửa hiếm gặp, hễ tức giận là lửa ma bùng lên thiêu rụi cả linh hồn lẫn vật chất. Mấy đứa ma lang thang trong hẻm này mà thấy con, chúng nó chạy mất dép.”
Bà Trần vươn tay, định vỗ vai tôi an ủi, nhưng ngón tay bà vừa chạm gần đến chiếc tạp dề đã vội rụt lại vì sức nóng. Bà nghiêm giọng dặn dò.
“Nhớ kỹ lời bà, con bé. Đừng bao giờ để sự phẫn nộ nuốt chửng lý trí. Nếu con mất kiểm soát, ngọn lửa đó sẽ không chỉ đốt cháy kẻ thù, mà còn thiêu rụi cả chính bản thân con. Hiểu chưa?”
Tôi nuốt khan, gật đầu lia lịa. Ngọn lửa hủy diệt nghe oai phong lẫm liệt thật đấy, nhưng tôi chỉ là một đứa con gái mồ côi đam mê xào nấu. Tôi thà dùng lửa để nướng hàu mỡ hành còn hơn là đi đốt nhà người khác.
Đêm thứ hai sau khi trở thành cư dân hộ khẩu địa phủ, tôi bắt đầu làm quen với việc trôi lơ lửng quanh hẻm Hoài Lương. Phải công nhận làm ma cũng có cái lợi, ví dụ như không bao giờ lo mỏi chân, và đặc biệt là không cần nộp tiền nhà hàng tháng.
Đang bay là đà qua ngã ba đường lớn, nơi giao cắt giữa con hẻm cổ và đại lộ sầm uất, tôi chợt nghe thấy tiếng khóc thút thít. Âm thanh cất lên từ phía dưới gốc cây bàng già cỗi.
Tôi lướt tới gần. Phía sau thân cây xù xì, một cậu bé chừng tám tuổi đang ngồi co ro, hai tay bịt chặt lấy tai, cả người run lên bần bật. Cậu bé mặc chiếc áo thun sọc ngang dính đầy vết bùn đất, đôi giày thể thao mất một bên dây buộc.
Mỗi lần có ánh đèn pha ô tô quét qua, hoặc tiếng còi xe tải vang dội từ ngoài đường lớn vọng vào, thân ảnh cậu bé lại mờ đi một chút, tiếng khóc càng thêm thê lương.
Bản tính bao đồng nổi lên, tôi hạ độ cao, ngồi xổm xuống bên cạnh thằng bé. Tôi cố gắng thu liễm toàn bộ sát khí trên người, bóp nghẹt màu đỏ của chiếc tạp dề xuống mức tối thiểu, rồi lên tiếng hỏi han.
“Này nhóc, sao lại trốn ở đây khóc một mình? Lạc đường hả?”
Thằng bé ngước lên. Đôi mắt nó to tròn, ngập nước, khuôn mặt trắng bệch hằn lên một vết sẹo dài từ trán xuống má trái. Nó nhìn tôi, không hề tỏ ra sợ hãi trước đôi mắt than hồng của tôi, mà chỉ chỉ tay về phía đại lộ.
“Em… em muốn qua đường mua kẹo hồ lô cho em gái. Nhưng mà… xe tải to lắm… ồn lắm… em đau…”
Nó nói ngắt quãng, giọng nghẹn ngào. Ký ức về cái chết rõ ràng vẫn đang hành hạ linh hồn nhỏ bé này. Nó tên là Tiểu Niên, chết vì tai nạn giao thông ngay tại ngã tư này ba năm trước. Từ đó, linh hồn nó kẹt lại đây, mắc kẹt trong khoảnh khắc hoảng loạn cuối cùng, không dám bước thêm nửa bước để siêu thoát.
Trái tim vô hình của tôi thắt lại. Tôi ghét nhất là thấy trẻ con khóc. Lúc sinh thời, mỗi lần thấy đám nhóc tì khóc nhè trước cửa nhà hàng, tôi đều lén lấy bánh bao ngọt ra dỗ dành. Giờ làm ma rồi, lấy đâu ra bánh bao?
Tiếng còi xe bíp bíp chói tai lại vang lên. Tiểu Niên hét lên một tiếng, cuộn tròn người lại. Khí lạnh từ người nó tỏa ra, báo hiệu linh hồn đang suy yếu nghiêm trọng vì sợ hãi.
Không suy nghĩ nhiều, tôi dang hai tay ôm lấy thằng bé. Cảm giác lạnh lẽo truyền qua da thịt trong suốt, nhưng tôi không bận tâm. Tôi nhắm mắt lại, tập trung suy nghĩ. Bà Trần nói tôi là Xích Y Quỷ, mang hỏa khí hủy diệt. Nhưng lửa đâu chỉ dùng để đốt cháy? Lửa còn dùng để sưởi ấm, để hầm nhừ một nồi canh xương cốt ngọt lịm mang lại bình yên cho dạ dày cơ mà!
Tôi dồn toàn bộ sự tập trung vào lòng bàn tay phải. Một đốm sáng nhỏ xíu xuất hiện. Không phải ngọn lửa cuồng bạo nóng rát, mà là một ngọn lửa nhỏ nhắn, xanh biếc, ấm áp và êm dịu hệt như ngọn lửa của bếp ga khi bạn vặn nhỏ hết cỡ để ninh cháo.
Tôi đưa ngọn lửa đến trước mặt Tiểu Niên. Hơi ấm lan tỏa, xua tan cái lạnh giá của nỗi sợ hãi. Thằng bé hé mắt nhìn đốm lửa xanh nhấp nháy trong tay tôi. Tiếng khóc nín bặt. Nó đưa ngón tay nhỏ xíu chạm nhẹ vào ngọn lửa. Không hề bỏng rát.
“Ấm quá… giống như… giống như bếp lò nhà em mùa đông vậy.”
Tiểu Niên thì thầm, khóe môi khẽ nhếch lên tạo thành một nụ cười rụt rè.
Tôi thở phào, mỉm cười xoa đầu nó. Khoảnh khắc ấy, tôi nhận ra một điều vô cùng quan trọng: sức mạnh không quyết định bản chất, cách chúng ta sử dụng sức mạnh mới là câu trả lời. Tôi có thể là một ác quỷ trong mắt cõi âm, nhưng tôi vẫn là Diệp Noãn Noãn, cô đầu bếp luôn muốn mang lại sự no bụng và ấm lòng cho người khác.
Từ đêm đó, Tiểu Niên trở thành cái đuôi nhỏ của tôi. Cứ chập tối là nó lẵng nhẵng bay theo tôi khắp hẻm, gọi một tiếng “chị Noãn”, hai tiếng “chị Noãn”. Có thêm thằng bé và bà Trần, cuộc sống làm ma của tôi bớt tẻ nhạt đi nhiều.
Nhưng sự bình yên ấy chẳng kéo dài được bao lâu, cho đến khi tôi phát hiện ra bí mật ở đầu hẻm Hoài Lương.
Ngay khúc quanh nối từ hẻm ra đường lớn, có một tiệm trà gỗ mang tên Dạ Trầm Trà. Ban ngày, tiệm đóng cửa im ỉm, rèm tre buông thõng, trông chẳng khác nào một vết mực cũ kỹ bị người ta lãng quên giữa phố thị phồn hoa. Nhưng cứ đến đúng nửa đêm, cánh cửa gỗ mới khẽ khàng hé mở.
Hương thơm tỏa ra từ tiệm trà đó là thứ vũ khí chí mạng đối với một linh hồn mang tâm hồn ăn uống như tôi. Nó không chỉ có mùi thanh tao, chát nhẹ của lá trà Long Tỉnh thượng hạng, mà còn quyện lẫn mùi bơ nướng, mùi bột mì chín tới, mùi mứt hạt dẻ ngọt ngào.
Đêm đầu tiên ngửi thấy mùi hương ấy, tôi đã không tự chủ được mà trôi tuột vào trong tiệm như một miếng bọt biển hút nước.
Không gian bên trong tiệm hẹp nhưng bài trí cực kỳ tinh tế. Bàn ghế làm từ gỗ tử đàn tỏa hương trầm nhè nhẹ. Trên vách tường treo vài bức tranh thủy mặc vẽ cảnh núi non sương mù. Ở góc phòng, một chiếc lư đồng nhỏ đang nhả những sợi khói lam mỏng manh.
Và ngồi sau quầy pha chế, là chủ tiệm trà. Cố Dạ Trầm.
Đó là một người đàn ông chừng hai mươi bảy tuổi. Anh ta mặc áo sơ mi đen xắn tay đến khuỷu, lộ ra cẳng tay săn chắc. Khuôn mặt góc cạnh, sống mũi cao thẳng tắp, đôi mắt sâu thẳm mang màu mực tàu tĩnh lặng. Phải thừa nhận, xét về mặt thẩm mỹ, gã này đẹp trai một cách vô lý. Nhưng cái cách anh ta hành xử lại khiến người ta sởn gai ốc.
Anh ta đun nước sôi bằng một chiếc ấm gang cổ lỗ sĩ. Động tác rót nước, làm nóng chén, tráng trà diễn ra nhịp nhàng, chuẩn xác như một cỗ máy được lập trình. Anh ta pha trà với vẻ mặt nghiêm trọng như thể đang ký hợp đồng giao dịch bất động sản trị giá hàng tỷ nhân dân tệ, chứ không phải đang đổ nước nóng vào mấy cái lá khô.
Điều kỳ dị nhất là, cứ hễ rót xong một tách trà, anh ta lại ngước mắt lên, nhìn chằm chằm vào khoảng không trống rỗng góc trần nhà, môi mấp máy lẩm nhẩm những từ ngữ không rõ nghĩa. Thỉnh thoảng, anh ta lại khẽ gật đầu, hoặc cau mày khó chịu với bức tường.
Tôi nấp sau cây cột gỗ, ôm miệng nín thở.
“Mẹ ơi, gã này bị tâm thần phân liệt à? Nửa đêm nửa hôm mở quán bán trà cho ai? Đã thế còn ngồi lảm nhảm một mình. Mình là ma mà nhìn gã còn thấy rợn tóc gáy!”
Tôi tự nhủ thầm, định bụng quay gót chuồn thẳng. Nhưng đúng lúc đó, Cố Dạ Trầm mở nắp chiếc lò nướng nhỏ đặt đằng sau quầy. Một mẻ bánh quy bơ hạt dẻ vừa ra lò, vàng ươm, tỏa nhiệt hầm hập. Hương thơm béo ngậy xộc thẳng vào khứu giác vô hình của tôi, đánh gục toàn bộ hệ thống phòng ngự mang tên “sợ hãi”.
Kể từ đêm đó, tôi hình thành một thói quen vô cùng hèn mọn: đi ngửi trộm đồ ăn.
Cứ đúng hai giờ sáng, sau khi dỗ Tiểu Niên ngủ say dưới gốc bàng, tôi lại lượn lờ đến Dạ Trầm Trà. Tôi không dám xuất hiện trước mặt anh ta, chỉ bám chặt lấy cây cột gỗ ở góc khuất nhất, nhắm nghiền mắt, hít những hơi thật sâu để tận hưởng hương vị tuyệt diệu của trà và bánh.
Tôi tự bao biện cho hành động của mình: tôi đâu có ăn mất phần của anh ta, tôi chỉ ngửi ké chút hương vị thôi mà. Một con ma nghèo khổ không nơi nương tựa, tìm chút niềm vui ẩm thực thì có gì là sai?
Suốt một tuần liền, mọi chuyện diễn ra suôn sẻ. Cố Dạ Trầm vẫn lầm bầm một mình, vẫn pha trà, vẫn nướng bánh. Còn tôi vẫn đóng vai một cái máy hút mùi chạy bằng năng lượng tâm linh. Tôi đinh ninh rằng, với khả năng tàng hình đỉnh cao của mình, gã chủ tiệm kỳ quặc này sẽ chẳng bao giờ biết đến sự tồn tại của tôi.
Cho đến một đêm mưa rả rích đầu thu.
Đêm đó, không khí đặc quánh hơi ẩm. Tôi ướt lướt thướt trôi vào tiệm trà, mang theo chút oán khí bực dọc vì thời tiết. Áo tạp dề đỏ của tôi tỏa ra nhiệt lượng mạnh hơn bình thường để sấy khô bản thân, vô tình làm nhiệt độ trong phòng tăng lên vài độ.
Cố Dạ Trầm đang đứng quay lưng lại phía tôi, tay cầm kẹp gỗ gắp từng chiếc bánh nướng nhân đậu đỏ dứa ra đĩa sứ trắng. Mùi đậu đỏ sên đường phèn thơm nức nở khiến tôi quên béng đi sự cẩn trọng. Tôi trôi hẳn ra khỏi chỗ nấp, lơ lửng ngay phía trên đỉnh đầu anh ta, hai mắt than hồng sáng rực, nước miếng tâm linh tưởng chừng sắp nhỏ tong tong xuống sàn.
“Thơm quá… Nếu mà được cắn một miếng, vỏ bánh giòn rụm vỡ ra, nhân đậu đỏ nóng hổi tan chảy trong miệng… Ôi thần linh ơi…”
Tôi lẩm nhẩm đầy mê đắm, hai tay ôm mặt xoa xoa.
Đột nhiên, động tác của Cố Dạ Trầm khựng lại. Anh ta đặt chiếc kẹp gỗ xuống bàn, phát ra một tiếng “cạch” khô khốc.
Sống lưng tôi truyền đến một cơn ớn lạnh. Chạy. Bản năng mách bảo tôi phải chạy ngay lập tức. Nhưng hai chân tôi như bị đóng đinh vào không khí.
Cố Dạ Trầm chậm rãi quay người lại.
Anh ta không nhìn vào không khí nữa. Ánh mắt sâu thẳm, lạnh lẽo như nước hồ mùa đông của anh ta đâm xuyên qua khoảng không, khóa chặt lấy đôi mắt đỏ rực của tôi. Không có sự ngạc nhiên. Không có sự hoảng hốt. Chỉ có một sự điềm tĩnh đến đáng sợ.
Anh ta bước tới chiếc bàn gỗ ở trung tâm phòng, nhấc ấm trà lên, rót dòng nước màu hổ phách tuyệt đẹp vào không phải một, mà là hai chiếc tách sứ.
Khói trắng cuộn lên từ hai tách trà nóng hổi. Cố Dạ Trầm kéo chiếc ghế gỗ đối diện ra, động tác khoan thai, lịch thiệp nhưng mang theo áp lực ngàn cân. Anh ta ngẩng đầu, nhìn thẳng vào mặt tôi, giọng nói trầm khàn vang lên giữa không gian tĩnh mịch:
“Ngửi trộm suốt bảy ngày rồi. Đêm nay, tách trà kia, cô có định uống hay không?”
Tiếng sấm rền vang ngoài cửa sổ. Ánh chớp xé toạc bầu trời, hắt ánh sáng trắng bệch vào nửa khuôn mặt của Cố Dạ Trầm, làm nổi bật lên một nụ cười nhạt nhòa, sắc lẹm.
Trái tim vô hình của tôi như rớt thẳng xuống dạ dày. Gã này… gã thực sự nhìn thấy tôi! Hơn thế nữa, gã biết tôi ở đây suốt một tuần qua!
Trong đầu tôi lập tức hiện lên vô vàn kịch bản phim kinh dị mà tôi từng xem. Những gã đẹp trai, pha trà lúc nửa đêm, giả bộ nói chuyện một mình, nhìn thấy Xích Y Quỷ mà không hề chớp mắt… Thân phận của gã chỉ có thể là một trong hai loại: hoặc là đại ma đầu giết người không ghê tay, hoặc là pháp sư chuyên đi bắt hồn luyện bùa!
Dù là loại nào, thì cái mạng ma mỏng manh của tôi cũng đang đứng trước bờ vực thẳm.
Tôi nuốt cái ực, khẽ lùi lại phía sau, chiếc tạp dề đỏ bắt đầu bùng lên những tia lửa lách tách vì căng thẳng. Cố Dạ Trầm thấy vậy, chỉ dùng ngón tay trỏ gõ nhẹ lên mặt bàn gỗ. Ba nhịp. Tách. Tách. Tách.
“Nếu cô định đốt tiệm của tôi, tôi khuyên cô nên suy nghĩ kỹ. Bàn ghế ở đây làm từ gỗ tử đàn ngàn năm, cô đền không nổi đâu. Xuống đây, ngồi vào bàn. Hoặc là cút ra ngoài kia tắm mưa tiếp.”
Giọng điệu không mang theo chút đe dọa nào, nhưng lại khiến người ta không dám làm trái. Tôi rụt cổ lại, hỏa khí trên người tự động tắt ngấm. Một phần vì sợ, mười phần vì đĩa bánh đậu đỏ trên bàn trông quá sức hấp dẫn.
Tôi chậm chạp hạ độ cao, khép nép kéo ghế ngồi xuống đối diện anh ta. Cảm giác lúc này giống hệt như một nhân viên quèn bị tổng giám đốc gọi lên phòng làm việc để tra khảo về báo cáo tài chính hụt ngân sách.
Cố Dạ Trầm đẩy đĩa bánh về phía tôi.
“Ăn đi.”
Tôi ấm ức nhìn đĩa bánh.
“Anh đùa tôi đấy à? Tôi là ma! Tôi không có dạ dày thực thể! Làm sao mà nhai nuốt được mấy thứ này? Anh cố tình chế giễu nỗi đau của tôi đúng không?”
Anh ta khẽ nhếch mép, giơ tay lên, ngón trỏ và ngón giữa khép lại tạo thành một thủ ấn kỳ lạ. Anh ta lướt nhẹ hai ngón tay qua khoảng không phía trên tách trà và đĩa bánh. Một luồng sáng nhạt màu vàng kim lóe lên rồi biến mất nhanh đến mức tôi tưởng mình hoa mắt.
“Thử lại xem.”
Tôi bán tín bán nghi, dè dặt đưa tay về phía chiếc bánh nướng. Chuyện kỳ diệu đã xảy ra. Thay vì xuyên qua lớp vỏ bánh như mọi khi, ngón tay tôi chạm vào bề mặt thô ráp, ấm nóng. Tôi có thể cảm nhận được trọng lượng của chiếc bánh!
