Đêm mùng ba tháng chạp, Hàng Châu đón một đợt rét đậm. Cái lạnh của vùng Giang Nam không ồn ào gào thét như phương bắc, mà nó ngấm ngầm luồn lách qua từng khe cửa, đâm thẳng vào tủy xương. Tôi đang nằm trên chiếc chõng tre kê sát lò đúc nguội ngắt trong xưởng, khói than phảng phất mùi khét lẹt quen thuộc. Bốn mươi năm qua, cuộc đời Hà Chấn Sơn tôi chỉ gắn liền với hai thứ: chùa Vạn Thanh cổ tự và những cái khuôn đúc chuông đồng.
Mọi người đừng quên ấn chuông theo dõi cho Phở nha, truyện được lên sóng vào lúc năm giờ chiều hằng ngày.
Một giờ bốn mươi bảy phút sáng.
Tiếng chuông điện thoại réo lên, chọc thủng không gian tĩnh mịch. Tôi quờ quạng vơ lấy ống nghe. Đầu dây bên kia là giọng của Mã Duy Khánh, thằng con rể quý hóa của tôi. Giọng nó nghẹn lại, đứt quãng, xen lẫn tiếng thở dốc hoảng loạn.
“Ba ơi… Vân Dao… cô ấy đi ra hồ… con không kịp… ba đến ngay đi!”
Tôi không nhớ mình đã cúp máy bằng cách nào, cũng không nhớ làm sao mình khởi động được chiếc xe tải chở hàng cũ nát. Trái tim sáu mươi ba tuổi của tôi đập loạn nhịp, va đập vào lồng ngực như một quả lắc đồng mất phanh. Khu biệt thự Vạn An nằm ở phía tây thành phố, cách chùa Vạn Thanh mười lăm ki lô mét. Đó là một khu nhà giàu, nơi những kẻ có tiền vung hàng đống nhân dân tệ để mua lấy thứ phong thủy nhân tạo, với những hồ nước uốn lượn và hòn non bộ giả trân.
Khi tôi đến nơi, xe của cảnh sát đã đậu kín lối đi. Đèn chớp xanh đỏ quét những vệt dài quỷ dị lên mặt hồ nhân tạo phẳng lặng.
Và rồi, tôi nhìn thấy con bé.
Hà Vân Dao, đứa con gái duy nhất của tôi, niềm tự hào duy nhất của tôi sau khi nhàu nhĩ đi qua nửa đời người. Con bé nằm đó, trên nền cỏ nhân tạo ướt sũng. Mái tóc dài thường ngày được búi gọn gàng bằng trâm cài giờ xõa tung, bết bát sát vào gương mặt trắng bệch, tái xám. Đôi mắt con bé nhắm nghiền. Vài giọt nước đọng trên hàng mi dài, dưới ánh đèn pha của cảnh sát, trông như những hạt pha lê vỡ vụn.
Mã Duy Khánh đang quỳ gục bên cạnh thi thể vợ. Hắn mặc bộ đồ ngủ lụa đắt tiền, cả người ướt sũng. Hắn gào khóc, đấm tay xuống đất, bộ dạng đau đớn đến mức một viên cảnh sát trẻ tuổi phải bước đến vỗ vai an ủi.
Tôi bước tới, hai chân nặng như đeo chì. Không gào thét, không khóc lóc ầm ĩ. Nỗi đau tột cùng của con người không phát ra âm thanh, nó giống như một khối chì nóng chảy đổ ụp vào cuống họng, thiêu rụi mọi khả năng phát âm. Tôi quỳ xuống bên cạnh con gái, bàn tay đầy vết chai sần và sẹo bỏng vì lửa lò đúc run rẩy chạm vào gò má lạnh ngắt của con bé.
Nhưng ngay trong khoảnh khắc trái tim tôi vỡ nát, đôi mắt của một người thợ thủ công lão luyện, và đôi tai chuyên thẩm định âm thanh của những chiếc chuông đồng, lại bắt đầu hoạt động ngoài ý muốn.
Tôi liếc nhìn Mã Duy Khánh. Hắn khóc rất to, vai run lên từng hồi bần bật. Nhưng tiếng khóc của hắn, nếu ví như một chiếc chuông, thì đó là một chiếc chuông bị nứt mẻ bên trong. Âm thanh rỗng tuếch, không có độ vang của sự bi thương thật sự. Hắn che mặt bằng hai bàn tay, nhưng qua kẽ ngón tay, tôi không thấy nước mắt chảy ròng ròng như người ta thường thấy ở một kẻ vừa mất đi cả thế giới. Hắn giống như một diễn viên đang diễn đoạn cao trào trên sân khấu, tính toán từng nhịp nấc cụt sao cho hoàn hảo nhất.
Và rồi, ánh mắt tôi trượt dọc theo thi thể con gái.
Thứ nhất, Vân Dao đang mặc một bộ áo dài lụa tơ tằm màu xanh ngọc. Đây là bộ trang phục con bé yêu thích nhất, chỉ mặc khi biểu diễn đàn cổ tranh tại trung tâm văn hóa quận. Tại sao một người phụ nữ nửa đêm mất ngủ, muốn đi dạo giải tỏa tâm lý rồi trượt chân ngã, hoặc có ý định tự kết liễu đời mình, lại cất công thay bộ trang phục trang trọng nhất, cài nút chỉnh tề từng chiếc cúc áo?
Thứ hai, trên cổ tay trái của con bé trống trơn. Một khoảng da trắng bệch lộ ra.
Chiếc vòng ngọc bích đâu rồi? Đó là kỷ vật duy nhất vợ tôi, Diệp Tố Vân, để lại trước khi qua đời vì bệnh phổi. Vân Dao coi chiếc vòng đó như sinh mệnh, lúc tắm không tháo, lúc ngủ không cởi, thậm chí có lần bị ốm phải truyền dịch, y tá bảo tháo ra cho dễ tìm ven, con bé thà chịu đau đâm kim nhiều lần chứ nhất quyết không gỡ. Một người chuẩn bị chết, cớ sao lại tháo bùa hộ mệnh của mình ra?
Nhưng điều khiến ruột gan tôi cuộn trào, lạnh toát cả sống lưng, chính là bản thân cái hồ nước này.
Vân Dao mắc chứng sợ nước nghiêm trọng. Năm sáu tuổi, con bé trượt chân ngã xuống ao làng, suýt chết đuối. Kể từ ngày đó, chỉ cần nhìn thấy mặt nước sâu quá đầu gối, cả người con bé sẽ run lên bần bật, sắc mặt trắng bệch, thở gấp gáp. Con bé không bao giờ đi bơi, đi tắm biển chỉ dám đứng trên bãi cát. Thậm chí ở nhà, con bé rửa mặt cũng chỉ dùng khăn ướt lau qua, tuyệt đối không bao giờ vục mặt vào chậu nước đầy.
Một người sợ nước đến mức ám ảnh tâm lý, lại chọn cách tự bước xuống một cái hồ nước sâu hai mét giữa đêm khuya mùa đông để tự vẫn? Nực cười. Thật sự nực cười đến mức quỷ thần cũng phải bật khóc.
Tôi ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mặt Mã Duy Khánh.
“Vòng ngọc của con bé đâu?”
Tôi hỏi, giọng khàn đặc, khô khốc như tiếng cọ xát của hai mảnh giấy nhám.
Mã Duy Khánh hơi khựng lại. Đôi mắt hắn sưng đỏ, chớp chớp vài cái tỏ vẻ ngơ ngác.
“Ba nói gì cơ? Vòng ngọc nào ạ? Lúc con chạy ra thì cô ấy đã… đã chìm rồi… ba ơi, là tại con, tại con không chăm sóc tốt cho cô ấy!”
Hắn lại gục đầu xuống đất, đấm tay bình bịch. Đúng lúc đó, một chiếc xe con sang trọng màu đen bóng loáng trờ tới, phanh kít lại. Cửa xe mở ra, một người phụ nữ trạc sáu mươi tuổi bước xuống. Đó là Mã Thái Quyên, mẹ của Duy Khánh, bà thông gia quý tộc của tôi. Bà ta khoác một chiếc áo choàng lông thú đắt tiền, tóc uốn nếp không chệch một ly, gương mặt trang điểm kỹ lưỡng dẫu đang là hai giờ sáng.
Bà ta bước tới, liếc nhìn thi thể Vân Dao bằng ánh mắt lướt qua nhanh như sợ bị lây bệnh truyền nhiễm, rồi vội vàng ôm lấy vai con trai mình.
“Khánh, con làm sao thế này? Trời lạnh thế này sao lại ướt hết cả người? Đứng lên, đứng lên mau kẻo viêm phổi bây giờ! Có chuyện gì thì để cảnh sát giải quyết, con tự hành hạ bản thân làm gì!”
Nụ cười mỉa mai xé rách cõi lòng tôi. Nụ cười của bà ta ấm áp như chiếc tủ đông trong siêu thị. Con dâu chết nằm dưới đất lạnh lẽo, điều đầu tiên bà ta quan tâm là áo quần con trai bị ướt. Gia đình họ Mã này, ngay từ đầu đã coi Vân Dao là đứa con gái nhà quê nặc mùi khói than, không xứng bước chân vào cửa lớn nhà họ. Nếu không phải vì mảnh đất của chùa Vạn Thanh nằm ngay trong khu vực quy hoạch dự án đô thị mới trị giá hàng trăm triệu tệ, một giám đốc công ty phong thủy danh tiếng như Mã Duy Khánh làm sao chịu cúi mình cưới con gái của một lão thợ đúc chuông lẩm cẩm?
“Bác là người nhà của nạn nhân?”
Một giọng nữ lạnh lùng, sắc bén cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi. Tôi quay lại. Một nữ thanh tra mặc thường phục, áo khoác da màu đen, tóc cắt ngắn ngang vai đang cầm cuốn sổ tay đứng nhìn tôi. Tấm thẻ công tác trước ngực ghi tên: Doãn Lệ Hà.
Tôi gật đầu chậm rãi.
“Tôi là cha của Hà Vân Dao.”
Doãn Lệ Hà nhìn tôi, ánh mắt cô ta không có sự thương hại thừa thãi, chỉ có sự đánh giá của một cỗ máy phân tích logic.
“Bác Hà, chúng tôi vô cùng chia buồn. Nhưng hiện tại chúng tôi cần đưa thi thể về cục pháp y để khám nghiệm. Người nhà vui lòng sáng mai đến trụ sở để làm việc.”
Tôi đứng phắt dậy, tóm lấy cánh tay áo của nữ thanh tra.
“Thanh tra Doãn! Con gái tôi không tự sát! Nó sợ nước! Nó sợ nước hơn bất cứ thứ gì trên đời này! Nó không thể tự đi xuống hồ được! Các người nhìn áo quần nó đi, nhìn cổ tay nó đi, vòng ngọc biến mất rồi! Là có kẻ đã hại chết nó!”
Tôi chỉ tay thẳng vào mặt Mã Duy Khánh. Bầu không khí bỗng nhiên đông cứng lại. Tất cả cảnh sát có mặt đều quay lại nhìn. Mã Duy Khánh mở to mắt, vẻ mặt đầy bàng hoàng, tổn thương tột độ. Hắn lùi lại nửa bước, giọng run rẩy:
“Ba… ba nói gì vậy? Ba nghi ngờ con sao? Dao Dao là mạng sống của con, con yêu cô ấy hơn chính bản thân mình cơ mà!”
Mã Thái Quyên lập tức xù lông lên như một con gà mái già bị giẫm trúng đuôi. Bà ta gắt gỏng:
“Ông Hà, tôi biết ông đau lòng vì mất con, nhưng ông không được ngậm máu phun người! Con trai tôi yêu thương Vân Dao thế nào, cả cái thành phố Hàng Châu này đều biết! Nó lo cho vợ từng bữa ăn giấc ngủ. Ông đừng có vì đả kích quá lớn mà cắn càn!”
Doãn Lệ Hà gỡ tay tôi ra, giọng điệu vẫn đều đều, không mảy may gợn sóng.
“Bác Hà, xin bác bình tĩnh. Mọi kết luận đều phải dựa trên bằng chứng vật chất và kết quả khám nghiệm tử thi. Chúng tôi sẽ điều tra rõ ràng. Bây giờ, mong bác hợp tác để chúng tôi làm nhiệm vụ.”
Họ đưa Vân Dao đi. Chiếc xe cứu thương hú còi rời khỏi khu biệt thự, mang theo cả linh hồn của tôi. Tôi đứng chôn chân bên bờ hồ, nhìn mặt nước đen ngòm đang gợn những nếp nhăn méo mó dưới ánh đèn đường. Bọn họ nói đúng, pháp luật cần bằng chứng. Mà tôi, chỉ là một lão già thợ đúc chuông, không có gì ngoài một trực giác gào thét trong cõi lòng rách nát.
Tôi trở về chùa Vạn Thanh khi phương đông bắt đầu hửng sáng. Ngôi chùa cổ nằm lọt thỏm giữa những dự án chung cư cao cấp đang thi công dang dở, giống như một kẻ sống sót ngoan cố từ thế kỷ trước. Không gian trống rỗng, im lìm. Mùi nhang trầm quyện với mùi ẩm mốc của gỗ mục xộc vào mũi.
Tôi bước vào xưởng đúc, mở chiếc hòm gỗ cũ kỹ đặt dưới gầm giường. Bên trong là vài món đồ chơi thuở nhỏ của Vân Dao, vài tờ giấy khen ố vàng. Tôi lấy ra bức ảnh chụp chung của hai cha con ngày con bé lên xe hoa. Trong ảnh, Vân Dao cười rạng rỡ, tay ôm một chiếc chuông đồng nhỏ bằng nắm tay.
Đó là món quà hồi môn tôi tự tay đúc cho con bé. Tôi đã cẩn thận khắc tên “Vân Dao” lên thân chuông, dặn dò con bé rằng:
“Khi nào con buồn, gõ chuông này một tiếng, dù xa ngàn dặm ba cũng nghe thấy.”
Nhưng hôm nay, cảnh sát đã trao trả lại cho tôi những di vật cá nhân tìm thấy trong phòng ngủ của con bé. Trong chiếc túi ni lông trong suốt, có điện thoại, chìa khóa, và chiếc chuông đồng nhỏ ấy.
Tôi mang chiếc chuông lên chánh điện, đặt nó ngay ngắn trên ban thờ tạm thời lập vội cho con gái. Khói nhang lượn lờ mờ ảo. Tôi quỳ sụp xuống bồ đoàn, nhắm mắt lại, đôi tay bấu chặt vào đùi để ngăn những tiếng nấc nghẹn ngào chực trào ra.
Và rồi, ngay trong khoảnh khắc tĩnh lặng tuyệt đối đó.
Môt tiếng “boong” vang lên.
Âm thanh thanh thúy, trong vắt, nhưng lại buốt lạnh đến tận óc. Tiếng chuông rền dài, ngân nga trong không gian trống rỗng của chánh điện, đập vào những bức tường gỗ, dội ngược trở lại màng nhĩ tôi.
Tôi choàng mở mắt. Trái tim ngừng đập một nhịp.
Chiếc chuông đồng nhỏ nằm yên tĩnh trên ban thờ. Không hề có gió lùa, vì toàn bộ cửa chính và cửa sổ đều được tôi đóng chặt để ngăn cái lạnh. Không có con chuột hay con mèo hoang nào chạy qua. Không một ai chạm vào nó.
Nhưng tiếng chuông vẫn đang ngân lên những dư âm cuối cùng trong không khí.
Tôi lảo đảo đứng dậy, bước từng bước chậm chạp tới gần ban thờ. Bàn tay thô ráp của tôi vươn ra, chạm nhẹ vào thân chuông.
Đồng còn hơi ấm. Một luồng nhiệt lượng kỳ lạ truyền từ kim loại sang đầu ngón tay tôi, chạy dọc lên cánh tay, gõ thẳng vào đại não. Nước mắt tôi, thứ đã kiềm chế suốt từ lúc ở bờ hồ đến giờ, bỗng chốc vỡ đê, tuôn rơi lã chã. Tôi ôm chặt chiếc chuông vào ngực, khóc rống lên như một con thú hoang bị thương.
“Dao Dao… con đang gọi ba phải không? Con chết oan uổng phải không con ơi…”
Người chết không biết gõ chuông. Trừ phi, linh hồn họ mang theo một nỗi oán hận quá lớn, lớn đến mức phá vỡ ranh giới của âm dương, mượn vật truyền âm để kêu cứu. Tôi là thợ đúc chuông, tôi hiểu rõ hơn ai hết. Chuông đồng chỉ kêu khi có ngoại lực tác động, hoặc khi nó cộng hưởng với một tần số tương thích. Tần số đó, đêm nay, chính là tiếng khóc than từ cõi âm của con gái tôi.
Chín giờ sáng hôm sau, tôi có mặt tại trụ sở cảnh sát. Doãn Lệ Hà ngồi đối diện tôi qua chiếc bàn sắt lạnh lẽo. Khuôn mặt cô ta vẫn giữ nguyên vẻ điềm tĩnh, chuyên nghiệp, không để lộ bất kỳ cảm xúc cá nhân nào. Cô ta đẩy về phía tôi một tờ giấy.
“Bác Sơn, đây là kết quả giám định pháp y sơ bộ. Nạn nhân tử vong do ngạt nước. Trong phổi có chứa một lượng lớn nước hồ và tảo vi sinh trùng khớp với hệ sinh thái của hồ nhân tạo khu Vạn An. Toàn thân không có dấu vết ẩu đả, không có vết bầm tím do bị cưỡng ép hay khống chế. Trong máu không có thành phần của thuốc mê hay chất độc. Mọi dấu vết vật lý đều hướng tới kết luận: tự vẫn.”
Tôi đập mạnh tay xuống bàn, tờ giấy rung lên bần bật.
“Tôi đã nói rồi! Nó sợ nước! Một đứa sợ nước không bao giờ chọn cách chết đuối! Các người là cảnh sát, sao các người không dùng não mà suy nghĩ? Tại sao nó lại mặc bộ áo dài đẹp nhất? Tại sao vòng ngọc biến mất? Tại sao?”
Doãn Lệ Hà khẽ thở dài, ánh mắt lướt qua tôi mang theo một tia bất lực. Cô ta lấy từ trong ngăn kéo ra hai chiếc lọ nhựa nhỏ và một cuốn sổ tay bìa da, đặt lên bàn.
“Bác Hà, tôi hiểu nỗi đau của bác. Nhưng chúng tôi làm việc dựa trên chứng cứ. Đây là những thứ chồng của nạn nhân, anh Mã Duy Khánh, đã giao nộp cho cơ quan điều tra sáng nay.”
Cô ta chỉ vào hai chiếc lọ nhựa.
“Đây là thuốc chống trầm cảm liều cao, được kê đơn dưới tên của Hà Vân Dao tại bệnh viện tâm thần trung ương cách đây đúng hai tháng. Và đây…”
Cô ta lật cuốn sổ tay bìa da.
“Là nhật ký của nạn nhân. Trong đó ghi chép lại những áp lực tâm lý, sự mệt mỏi với cuộc sống. Trang cuối cùng được viết vào chiều ngày hôm qua, có dòng chữ:
‘Mọi thứ quá ngột ngạt, tôi chỉ muốn chìm vào một giấc ngủ thật sâu, nơi không ai có thể tìm thấy mình’.”
Tôi giật lấy cuốn sổ, căng mắt ra nhìn. Từng con chữ hiện lên rõ ràng. Nét chữ thanh mảnh, hơi nghiêng về bên phải. Bất cứ ai nhìn vào cũng sẽ nói đây chính xác là chữ của Vân Dao. Độ tương đồng phải lên tới chín mươi phần trăm.
Nhưng tôi là cha nó. Tôi đã cầm tay nó tập viết những chữ cái đầu tiên. Nét chữ của Vân Dao luôn có một thói quen nhỏ: khi viết chữ “t”, nét gạch ngang luôn hất nhẹ lên trên một chút xíu. Chữ trong cuốn sổ này, nét gạch ngang lại bằng phẳng, cứng nhắc, như thể có ai đó đã cố tình bắt chước, nắn nót sao cho thật giống, nhưng lại thiếu đi cái hồn tự nhiên của người viết.
Tôi ngẩng phắt lên, nghiến răng:
“Đây là đồ giả! Chữ này không phải của con bé! Còn thuốc trầm cảm? Nó sống vui vẻ, đang dạy đàn cho học sinh, tại sao lại trầm cảm? Đây là một vở kịch! Thằng súc sinh đó đã dàn dựng tất cả!”
Doãn Lệ Hà nhíu mày, giọng nói đanh lại, mang theo sự cảnh cáo.
“Bác Hà! Bác vui lòng cẩn trọng lời nói. Anh Mã là một nhân vật có tiếng tăm, nếu bác không có bằng chứng mà tiếp tục vu khống, bác sẽ gặp rắc rối pháp lý đấy. Chúng tôi đã đối chiếu nét chữ sơ bộ, chuyên gia khẳng định không có dấu hiệu giả mạo rõ rệt. Còn về hồ sơ bệnh án, bệnh viện đã xác nhận nạn nhân từng đến khám. Vụ án này, về cơ bản, không có dấu hiệu hình sự.”
Cô ta đóng hồ sơ lại, tiếng bìa kẹp vang lên khô khốc, sắc lẹm như nhát dao chém đứt hy vọng cuối cùng của tôi. Pháp luật cần bằng chứng. Mánh khóe của ác quỷ khôn ngoan ở chỗ, chúng biết tạo ra những bằng chứng giả hoàn hảo để lấp liếm sự thật, và dùng chính hệ thống pháp luật cứng nhắc để bảo vệ bản thân.
Tôi bước ra khỏi trụ sở cảnh sát, bầu trời Hàng Châu xám xịt, lấm tấm vài hạt mưa bụi lạnh buốt. Tôi rút chiếc điện thoại cũ kỹ ra, định gọi điện cho những học trò cũ của Vân Dao để tìm kiếm nhân chứng. Nhưng ngay khi màn hình vừa sáng lên, hàng loạt thông báo từ mạng xã hội đập vào mắt tôi.
Mã Duy Khánh đã đăng một bài viết.
Một bài viết dài hai nghìn chữ trên mạng xã hội, kèm theo bức ảnh hắn tiều tụy, mắt đỏ hoe, tay ôm khung ảnh của Vân Dao.
Tôi run rẩy bấm vào đọc. Từng dòng chữ của hắn như những mũi kim tẩm độc, đâm thẳng vào võng mạc tôi. Hắn viết về tình yêu sâu đậm dành cho vợ. Hắn kể lể chi tiết về việc Vân Dao bị trầm cảm nặng sau khi kết hôn, thường xuyên mất ngủ, cáu gắt vô cớ. Hắn đóng vai một người chồng hoàn hảo, bao dung, nhẫn nhịn mọi sự thất thường của vợ. Hắn miêu tả sự hối hận tột cùng khi đêm qua vì quá mệt mỏi đã ngủ thiếp đi, không kịp ngăn cản vợ tìm đến cái chết.
Và ở đoạn cuối cùng, hắn khéo léo chĩa mũi dùi về phía tôi. Hắn viết: *”
Tôi biết ba vợ tôi đang vô cùng đau đớn. Việc ông ấy không chấp nhận sự thật, thậm chí buông lời cay nghiệt đổ lỗi cho tôi, tôi hoàn toàn thấu hiểu và xin gánh chịu. Chỉ mong ông giữ gìn sức khỏe, để linh hồn Dao Dao được an nghỉ.”*
Dưới bài viết, hàng chục nghìn lượt thích và chia sẻ tăng lên chóng mặt. Mã Duy Khánh vốn là một chuyên gia phong thủy nổi tiếng trên mạng, có hàng trăm nghìn người theo dõi. Bọn họ coi hắn là thần tượng, là hình mẫu đàn ông lý tưởng. Cư dân mạng như một bầy cá mập ngửi thấy mùi máu, lập tức lao vào cắn xé.
Tôi lướt xem những dòng bình luận.
*”
Trời ơi, thương thầy Mã quá. Vợ bị bệnh tâm lý mà thầy vẫn không bỏ rơi, đến cuối cùng lại phải chịu nỗi đau này.”*
*”
Gặp phải ông bố vợ điên khùng rồi. Con gái tự tử vì trầm cảm, không biết tự trách mình chăm sóc con kiểu gì lại đi đổ thừa cho con rể.”*
*”
Nghe đồn ông già này làm nghề đúc chuông, mê tín dị đoan lắm. Chắc ép con gái làm theo ý mình nên cô ấy mới trầm cảm đấy.”*
*”
Thầy Mã đừng buồn, loại người vô lý như ông ta cứ để pháp luật xử lý. Thầy đã làm hết sức rồi.”*
Tôi thở dốc, lồng ngực phập phồng như chiếc bễ lò rèn sắp vỡ. Cơn phẫn nộ bốc lên ngùn ngụt, thiêu đốt mọi lý trí. Tôi muốn lao đến công ty Vạn An Đường của hắn, muốn dùng chiếc búa đúc chuông đập nát cái khuôn mặt đạo mạo giả nhân giả nghĩa đó. Tôi muốn gào lên cho cả thế giới biết hắn là một con quỷ hút máu đội lốt người.
Nhưng khi tôi vừa bước được hai bước, hình ảnh chiếc chuông đồng nhỏ tự rung lên trên ban thờ đêm qua xẹt qua tâm trí.
Không.
Tôi dừng sững lại giữa dòng người qua lại hối hả. Mưa bụi dần nặng hạt, thấm ướt lớp áo khoác mỏng manh.
Tôi không thể hành động như một gã thất phu điên cuồng. Nếu tôi làm ầm ĩ, vác búa đi đánh hắn, tôi sẽ bị cảnh sát bắt giam vì tội cố ý gây thương tích. Khi đó, ai sẽ là người đòi lại công lý cho Vân Dao? Ai sẽ tìm ra sự thật đằng sau chiếc vòng ngọc bích bị mất? Ai sẽ nghe tiếng chuông kêu oan hằng đêm trong ngôi chùa trống?
Mã Duy Khánh mắc chứng ái kỷ ác tính. Hắn coi trọng hình ảnh, danh dự, và sự ngưỡng mộ của đám đông hơn cả mạng sống. Hắn đã tính toán mọi bước đi, dùng dư luận làm lá chắn, dùng giấy tờ y tế giả làm vũ khí. Hắn dựng lên một bức tường nước khổng lồ để dìm chết tôi, y như cách hắn đã dìm chết con gái tôi.
Đánh vào bức tường nước bằng nắm đấm là điều ngu xuẩn nhất. Nước sẽ chỉ nuốt chửng mọi sức lực của bạn. Muốn đánh bại nước, phải trở thành thứ lạnh lẽo hơn, sắc bén hơn. Phải trở thành băng.
Tôi hít một hơi thật sâu, để không khí lạnh buốt tràn ngập hai lá phổi. Đôi bàn tay đang siết chặt thành nắm đấm chậm rãi buông lỏng ra. Cơ mặt tôi trùng xuống, nét phẫn nộ hung tợn biến mất, thay vào đó là một vẻ lờ đờ, ngây dại, già nua và cam chịu. Trông tôi lúc này, phản chiếu qua cửa kính của một cửa hàng bên đường, hệt như một ông già lú lẫn, bị cú sốc mất con làm cho tinh thần suy sụp hoàn toàn.
Đúng rồi. Phải lú lẫn. Phải mê tín. Phải trở nên hoàn toàn vô hại trong mắt con quỷ đó.
Chiều hôm ấy, tôi không lên mạng đôi co, không đến đồn cảnh sát gào thét nữa. Tôi lầm lũi đi bộ đến cổng khu biệt thự Vạn An. Bảo vệ chặn tôi lại, nhìn tôi bằng ánh mắt cảnh giác xen lẫn khinh bỉ. Chắc chắn Duy Khánh đã dặn bọn họ đề phòng tôi tới phá đám.
Tôi không chửi bới. Tôi từ từ khuỵu hai đầu gối xuống nền gạch lạnh lẽo trước cổng, chắp hai tay trước ngực, giọng run rẩy, lầm bầm cầu xin:
“Xin các cậu… gọi điện cho Khánh… cho tôi vào thắp nén nhang cho con gái… Tôi không gây chuyện đâu… Tôi chỉ muốn cúng cho Dao Dao… Con bé lạnh lắm… Xin các cậu…”
Tên bảo vệ ngập ngừng, cuối cùng cũng nhấc bộ đàm lên gọi. Mười phút sau, Mã Duy Khánh xuất hiện. Hắn mặc đồ đen, vẻ mặt bước ra từ đau thương, nhìn tôi đang quỳ dưới đất. Trong đáy mắt hắn, một tia đắc ý và khinh miệt xẹt qua rất nhanh, nhanh đến mức nếu không phải là một người thợ quen nhìn ngọn lửa biến đổi màu sắc, tôi sẽ không bao giờ nắm bắt được. Hắn tưởng tôi đã gục ngã. Hắn tưởng sức ép dư luận đã đè bẹp sự kháng cự của ông già nghèo hèn này.
