Làm ma suốt ba năm, tôi rút ra được một kết luận rất thực tế: cõi âm thực chất cũng chỉ là một phiên bản nhàm chán hơn của trần gian, cộng thêm phần âm u và trừ đi khoản đóng thuế.
Mọi người đừng quên ấn chuông theo dõi cho Phở nha, truyện được lên sóng vào lúc năm giờ chiều hằng ngày.
Ở đây không có quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa cầm chĩa ba đâm chém loạn xạ như trong mấy cuốn sách ảnh mờ căm bán ngoài cổng miếu. Nơi này giống một cơ quan hành chính khổng lồ, xám xịt và lạnh lẽo. Vong hồn chúng tôi xếp hàng, dài dằng dặc, lầm lũi bước đi trong sương mù. Không ai nói với ai câu nào. Một hồn ma thì không biết đói, không biết khát, không biết mệt mỏi. Cảm giác duy nhất còn sót lại là một sự trống rỗng hoang hoải, như thể ai đó đã dùng xẻng xúc mất toàn bộ nội tạng của bạn, rồi nhét vào đó một cục đá tảng.
Cục đá của tôi nằm ngay giữa ngực. Nó nặng chịch. Ba năm nay, kể từ cái ngày hầm mỏ sập xuống, đè nát lồng ngực tôi dưới hàng tấn than đá đen ngòm, cục đá vô hình ấy vẫn nằm nguyên ở đó. Tôi không chịu uống canh súp của Mạnh Bà. Không phải vì tôi tiếc nuối ký ức trần gian. Nói thật, cuộc đời của một thằng thợ mỏ cộc cằn, bị vợ cắm sừng, nuôi đứa con hoang không phải máu mủ của mình, ngày qua tháng lại chìm trong men rượu rẻ tiền… chẳng có báu vật gì đáng để lưu luyến. Tôi từ chối uống vì tôi bướng bỉnh. Tôi muốn mang theo sự cay đắng ấy vĩnh viễn, như một tấm huy chương của kẻ bị phản bội.
“Hà Kiến Trung. Nam. Bốn mươi tuổi lúc tử vong. Quê quán: Thị trấn công nghiệp ngoại ô Trùng Khánh.”
Một giọng nói đều đều, khô khốc vang lên kéo tôi ra khỏi dòng suy nghĩ. Gã lại viên cõi âm mặc bộ đồ xám tro, tay cầm một cuốn sổ dày cộp, lật từng trang sột soạt. Gã không ngẩng đầu lên, cặp kính trễ xuống tận sống mũi.
“Ngươi có tên trong Sổ Hối Hận. Chỉ số nuối tiếc vượt mức quy định. Cấp trên quyết định cấp cho ngươi Dạ Hành Lệnh.”
Tôi nhíu mày. Hàng lông mày rậm rạp của tôi có lẽ là thứ duy nhất trên khuôn mặt ma quỷ này còn giữ được vẻ hung dữ của ngày xưa.
Tôi hừ lạnh một tiếng, đáp lại bằng chất giọng ồ ề như tiếng đá dăm nghiến vào nhau.
“Nhầm người rồi. Tôi chẳng có gì để hối hận. Cũng chẳng có ai trên đời để nhớ nhung. Sống một mình, chết một đống. Chuyển cái lệnh đó cho kẻ khác đi.”
Gã lại viên đẩy gọng kính, rốt cuộc cũng chịu ngước lên nhìn tôi. Ánh mắt gã đục ngầu, tĩnh lặng như mặt giếng hoang. Gã vươn tay, đặt lên bàn một nén hương đen ngòm, to bằng ngón tay cái, tỏa ra thứ mùi ngai ngái của đất ẩm và rễ cây mục.
“Âm ty không bao giờ nhầm lẫn, Hà Kiến Trung. Ngươi nghĩ mình không có ai, nhưng máu mủ của ngươi ở nhân gian đang gào thét. Nén hương âm phách này sẽ cháy trong năm đêm. Nó không nghe theo lý trí của ngươi, nó nghe theo mạch máu. Khi châm lên, khói sẽ dẫn ngươi về nơi tâm can ngươi thực sự hướng tới.”
Gã dừng lại một chút, gõ gõ ngón tay khô khốc lên mặt bàn gỗ.
“Luật lệ rất rõ ràng. Ngươi là một linh hồn. Ngươi không thể chạm vào bất cứ vật thể nào. Ngươi không thể để người sống nghe thấy tiếng mình. Và quan trọng nhất, ngươi phải biến mất trước khi tia nắng mặt trời đầu tiên chạm đất. Nếu vi phạm, hồn phách sẽ tan biến, vĩnh viễn không thể siêu sinh. Cầm lấy, và đi đi.”
Tôi chưa kịp mở miệng phản bác thêm nửa lời, nén hương trên bàn đột nhiên bốc cháy. Không có ngọn lửa nào, chỉ có một đốm sáng đỏ lừ như mắt quỷ, tỏa ra một dải khói mỏng manh. Dải khói ấy cuốn lấy cổ tay tôi, siết chặt như một sợi xích vô hình, rồi giật mạnh.
Khung cảnh cõi âm vỡ vụn. Tầm nhìn của tôi xoay cuồng trong vạn vệt sáng tối đan xen. Gió rít gào bên tai. Cảm giác lơ lửng kéo dài không biết bao lâu, cho đến khi mũi tôi bất chợt ngửi thấy một mùi hương vô cùng quen thuộc.
Mùi lưu huỳnh. Mùi than đá. Mùi rỉ sét của sắt thép và mùi ẩm mốc của những cơn mưa dầm dề vùng bồn địa.
Tôi mở mắt.
Trùng Khánh. Vẫn là bầu trời xám xịt như bị ai đó đổ ụp một chậu nước rửa bút mực lên đầu. Tôi đang đứng giữa một con hẻm nhỏ lầy lội, hai bên là những bức tường gạch tróc lở, dán đầy những tờ quảng cáo cho vay nặng lãi và chữa bệnh nam khoa. Mưa lất phất rơi, xuyên qua cơ thể mờ ảo của tôi, chạm xuống mặt vũng nước đọng dưới chân, tạo thành những gợn sóng nhỏ li ti. Tôi đưa tay lên nhìn. Trong suốt. Không có bóng. Tôi thực sự đã trở lại nhân gian.
Dải khói từ nén hương âm phách vẫn lơ lửng phía trước, uốn lượn như một con rắn nhỏ, kiên nhẫn vẫy gọi. Tôi nghiến răng, lầm lũi bước theo nó. Tôi muốn xem cõi âm rốt cuộc giở trò gì. Máu mủ ư? Đời này Hà Kiến Trung tôi làm gì có máu mủ. Đứa con duy nhất mà vợ tôi sinh ra, vốn dĩ là nghiệt chủng của một gã đàn ông khác.
Dải khói dẫn tôi đi xuyên qua mấy dãy phố tồi tàn, rẽ vào Khu công nghiệp số bốn. Nơi này từng là một tổ hợp nhà máy quốc doanh sầm uất, giờ chỉ còn là những kho bãi hoang tàn, được chia nhỏ cho tư nhân thuê làm xưởng gia công chui.
Khói dừng lại trước một cánh cửa sắt kéo đã hoen gỉ, hở một khe rộng chừng nửa mét. Bên trong vọng ra tiếng máy mài kim loại rít lên chói tai, kèm theo những tia lửa điện bắn tung tóe.
Tôi bước xuyên qua cánh cửa sắt. Không gian bên trong xưởng cơ khí ngột ngạt, đặc quánh mùi dầu luyn và mồ hôi chua loét. Dưới bóng đèn huỳnh quang nhấp nháy, có khoảng năm sáu công nhân đang cắm cúi làm việc. Và dải khói hương của tôi, không chút do dự, lao thẳng về phía góc tối nhất của xưởng, lượn lờ quanh đỉnh đầu của một thiếu niên.
Tôi khựng lại. Dạ dày vô hình của tôi như bị ai đó thò tay vào vặn xoắn một vòng.
Hà Nhẫn.
Thằng nhỏ đang cúi gập người trên bàn máy mài. Nó mười bảy tuổi, nhưng gầy đến mức thảm hại. Chiếc áo bảo hộ màu xanh công nhân rộng thùng thình, rách bươm ở vai, để lộ phần xương đòn nhô cao như hai lưỡi dao cùn. Tóc nó dài lòa xòa, bết bát dầu mỡ, che khuất hơn nửa khuôn mặt. Hai bàn tay đang cầm khối kim loại của nó chi chít những vết sẹo cũ mới đan xen, có những chỗ da thịt bị bỏng rộp lên, đỏ hỏn, tươm cả máu vàng.
Mười bảy năm trước, khi nó ra đời, tôi đã đặt tên nó là “Nhẫn”. Hà Nhẫn. Không phải vì tôi mong nó kiên nhẫn, mà vì tôi muốn tự nhắc nhở bản thân về nỗi nhục nhã mà mình phải nhẫn nhịn. Tôi đã đinh ninh nó là kết quả từ sự lăng loàn của Lâm Ngọc Dao, vợ tôi. Suốt mười bốn năm sống chung dưới một mái nhà trước khi tôi chết, số lần tôi nhìn thẳng vào mặt thằng nhỏ chắc chưa đếm hết mười đầu ngón tay. Tôi chửi rủa nó. Tôi ném vỡ bát cơm của nó. Tôi gọi nó là đồ con hoang.
Bây giờ, đứng cách nó chưa đầy một cánh tay, nhìn bộ dạng thê thảm của nó, lồng ngực tôi lại dấy lên một sự khó chịu kỳ lạ. Không phải xót xa. Chắc chắn không phải xót xa. Tôi tự nhủ với lòng mình như vậy. Chỉ là một sự chướng mắt. Dù sao nó cũng mang họ Hà, sao lại sống như một con chó hoang dưới đáy xã hội thế này?
“Xoảng!”
Một tiếng động chát chúa vang lên. Hà Nhẫn lỡ tay. Bàn tay run rẩy vì kiệt sức của nó trượt đi, khiến thanh linh kiện kim loại văng ra khỏi ngàm giữ, rơi loảng xoảng xuống nền xi măng.
Tiếng máy mài đột ngột tắt lịm. Cả xưởng im phăng phắc. Mấy gã thợ khác cúi gầm mặt, không ai dám ho he.
Từ trong căn phòng kính phía trong, một gã đàn ông đẩy cửa bước ra. Mã Tiến Bảo. Gã là chủ cái xưởng gia công bất hợp pháp này. Mã Tiến Bảo có cái bụng phệ như một thùng phuy chứa đầy mỡ lợn ôi thiu, cổ đeo một sợi dây chuyền vàng to bằng ngón tay út, phì phèo điếu thuốc lá trên môi. Hắn bước lạch bạch về phía góc của Hà Nhẫn.
“Mẹ khiếp! Mày mù à thằng oắt con? Một cái linh kiện hỏng của tao bằng tiền cơm cả tuần của mày đấy!”
Hắn quát lên, âm lượng lớn đến mức làm màng nhĩ tôi ong ong. Hà Nhẫn không nói lời nào. Thằng nhỏ từ từ khom người xuống, định nhặt thanh kim loại lên.
Nhưng Mã Tiến Bảo không cho nó cơ hội đó. Hắn vung chân. Mũi giày da bọc mũi sắt cứng ngắc giáng thẳng vào mạn sườn thằng nhỏ.
Tiếng va chạm đục ngầu vang lên. Hà Nhẫn văng đập lưng vào chân bàn máy mài. Một âm thanh nghẹn ứ thoát ra từ cổ họng nó, nhưng tuyệt đối không có tiếng kêu la. Thằng nhỏ cuộn tròn người lại như một con tôm luộc, hai tay ôm chặt lấy sườn phải. Khuôn mặt nó tái nhợt, mồ hôi lạnh vã ra như tắm, nhưng đôi mắt nó… đôi mắt nó tối tăm, phẳng lặng đến đáng sợ. Nó không khóc. Nó đã quen với việc bị bạo hành đến mức tê liệt cảm xúc.
Một ngọn lửa vô danh bùng lên trong lồng ngực tôi. Bản năng của một thằng đàn ông cả đời làm việc tay chân, dùng nắm đấm để nói chuyện, trỗi dậy. Tôi gầm lên, lao về phía Mã Tiến Bảo, vung một cú đấm toàn lực nhắm thẳng vào cái bản mặt bóng nhẫy mồ hôi của hắn.
Nắm đấm của tôi xuyên qua đầu hắn như đấm vào không khí. Mã Tiến Bảo thậm chí còn không chớp mắt. Hắn chỉ rùng mình một cái, lầu bầu chửi rủa thời tiết Trùng Khánh sao tự nhiên lạnh toát, rồi quay sang nhổ một bãi nước bọt xuống sàn, ngay sát mặt Hà Nhẫn.
Tôi đứng chôn chân tại chỗ, nhìn bàn tay trong suốt của mình. Đúng rồi. Tôi là ma. Tôi không thể chạm vào bất cứ thứ gì. Sự bất lực hóa thành một thứ axit vô hình, ăn mòn tâm trí tôi.
“Đứng lên! Đừng có giả vờ chết! Làm cho xong lô hàng này rồi hẵng cút! Tiền công tháng này tao sẽ trừ thẳng vào số tiền mày vừa phá hoại!”
Mã Tiến Bảo gầm gừ rồi quay gót bỏ vào phòng. Mấy người thợ xung quanh lén lút nhìn Hà Nhẫn, ánh mắt có chút thương hại, nhưng không một ai dám bước tới đỡ nó dậy. Bọn họ cũng chỉ là những kẻ làm thuê mạt hạng, lo thân mình còn chưa xong.
Tôi cúi xuống nhìn thằng nhỏ. Nó lảo đảo chống tay đứng lên, hơi thở đứt quãng, rít qua kẽ răng. Nó nhặt thanh kim loại lên, phủi sạch lớp bụi bẩn, rồi lại đưa vào máy mài. Bàn tay nó run lên bần bật, nhưng ánh mắt giấu sau lớp tóc lòa xòa vẫn không gợn một tia oán hận. Sự nhẫn nhịn của nó không giống sự hèn nhát. Nó giống như một hồ nước sâu thẳm, nuốt trọn mọi viên đá ném xuống mà không thèm tạo ra một gợn sóng.
Nhìn góc nghiêng của nó dưới ánh đèn vàng vọt, tim tôi lại nhói lên một nhịp. Đường nét trên khuôn mặt nó… cái sống mũi thanh tú ấy, cái cằm bướng bỉnh ấy… sao lại giống Lâm Ngọc Dao đến thế.
“Không. Nó không phải con mình. Mày đang thương hại một thằng ranh con không cùng máu mủ, Hà Kiến Trung. Mày điên rồi.”
Tôi tự lẩm bẩm, cố gắng dùng sự cay nghiệt quen thuộc để chèn ép cái thứ cảm xúc mềm yếu đang nảy mầm trong lòng.
Đến nửa đêm, ca làm việc kết thúc. Hà Nhẫn thay bộ quần áo bảo hộ bẩn thỉu rách nát, mặc vào một chiếc áo khoác mỏng đã sờn chỉ. Nó đi đến phòng kính của Mã Tiến Bảo. Gã chủ xưởng ném qua khe cửa sổ một xấp tiền nhàu nát, mắng mỏ thêm vài câu. Hà Nhẫn cẩn thận nhặt từng tờ tiền, vuốt phẳng phiu, rồi nhét sâu vào túi quần trong, lấy kim băng cài lại cẩn thận.
Nó bước ra khỏi xưởng, lầm lũi đi bộ dưới trời mưa phùn. Tôi trôi nổi ngay phía sau nó. Bước chân của nó khập khiễng. Cú đá của Mã Tiến Bảo chắc chắn đã làm tổn thương xương sườn của nó. Nhưng nó không ghé vào trạm xá, cũng không mua thuốc. Nó cứ thế đi bộ suốt bốn ki lô mét, hướng về phía khu dân cư cũ kỹ nằm ở rìa thị trấn.
Đây là khu chung cư xây từ thập niên chín mươi, dành cho công nhân xưởng dệt ngày trước. Nó khang trang và sạch sẽ hơn hẳn khu nhà trọ ổ chuột mà tôi từng sống.
Hà Nhẫn dừng lại trước cánh cửa sắt sơn màu xanh lục của căn hộ tầng trệt. Nó không gõ cửa, mà dùng chìa khóa tự mở.
Tôi lách người trôi vào theo. Ánh sáng ấm áp từ bóng đèn chùm hắt xuống phòng khách. Đồ đạc trong nhà tuy không thuộc loại xa xỉ, nhưng ti vi màn hình phẳng, ghế bành bọc da, tủ lạnh cỡ lớn… đầy đủ cả. Một sự đối lập hoàn toàn với bộ dạng rách rưới, ướt sũng của Hà Nhẫn.
Ngồi trên chiếc ghế bành bọc da là Châu Mỹ Linh, bác dâu của Hà Nhẫn. Bà ta cắn hạt dưa tách tách, mắt dán chặt vào bộ phim truyền hình cẩu huyết đang phát trên tivi. Thấy Hà Nhẫn bước vào, bà ta không thèm liếc mắt, chỉ chìa một bàn tay đeo chiếc nhẫn ngọc bích giả ra.
“Tiền công đâu? Đưa đây.”
Hà Nhẫn đứng im lặng, tháo chiếc kim băng ở túi quần, lôi xấp tiền nhàu nát ra đặt vào tay bà ta.
Châu Mỹ Linh lập tức ném nắm hạt dưa xuống bàn, thấm nước bọt vào ngón tay, đếm tiền thoăn thoắt. Nụ cười của bà ta lúc này ấm áp và chân thành hệt như tủ đông trong siêu thị. Đếm xong, lông mày bà ta nhíu lại, tạo thành hai nếp nhăn sâu hoắm trên trán.
“Sáu trăm tệ? Sao tháng này lại thiếu mất một trăm? Mày giấu đi đâu rồi hả thằng ranh? Nuôi mày tốn cơm tốn gạo, giờ mày còn học thói ăn cắp ăn bớt à?”
Bà ta đập tay xuống bàn, giọng the thé vạch trần.
Hà Nhẫn cúi đầu, giọng nói trầm khàn, thiếu sinh khí cất lên.
“Cháu lỡ tay làm hỏng một linh kiện. Chú Mã trừ vào tiền công.”
“Lỡ tay? Mày là cái đồ ăn hại! Giống hệt thằng cha mày, chỉ biết phá hoại! Cả cái nhà này nợ nần ngập đầu cũng vì cái thứ vô tích sự như mày!”
Bà ta chửi rủa xối xả. Từ trong phòng ngủ, một người đàn ông trung niên bước ra. Hà Quốc Lương. Anh trai ruột của tôi. Bác cả của Hà Nhẫn.
Quốc Lương mặc bộ đồ ngủ bằng lụa màu xám, khuôn mặt chữ điền, đeo kính gọng vàng. Bề ngoài, ông ta luôn toát ra vẻ đạo mạo, nghiêm trang, được cả xóm làng kính trọng.
Ông ta xua tay, ra hiệu cho vợ im lặng, rồi bước đến rót một chén trà Thiết Quan Âm, thong thả nhấp một ngụm.
“Thôi, bà đừng mắng cháu nó nữa. Nó còn nhỏ, đi làm cực nhọc, sai sót là khó tránh.”
Nói rồi, ông ta quay mặt ra phía cửa sổ đang mở, nơi có mấy bà hàng xóm đang ngồi hóng mát ngoài hành lang, cố tình nâng cao giọng.
“Nhẫn nhi à, bác biết con tủi thân. Nhưng bác cũng khổ tâm lắm. Bố con mất sớm, mẹ con thì… ôi chao, nhắc lại chỉ thêm đau lòng. Bác là bác ruột, máu chảy ruột mềm, thà nhịn ăn nhịn mặc chứ sao nỡ bỏ rơi con. Công việc ở xưởng cơ khí tuy vất vả, nhưng là để rèn luyện bản lĩnh đàn ông cho con thôi. Tiền con làm ra, bác đều cất kỹ vào sổ tiết kiệm, đợi sau này con lấy vợ sẽ đưa lại cho con. Bác tuyệt đối không đụng đến một đồng.”
Tôi lơ lửng giữa phòng khách, nhìn màn kịch của anh trai mình. Sự đạo đức giả của ông ta trơn tru đến mức rợn người. Tiết kiệm cho Hà Nhẫn? Lấy vợ? Nhìn bộ dạng thằng nhỏ ngày ngày ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, trên người không có nổi một đồng tệ lẻ, thì cái sổ tiết kiệm đó họa chăng chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của ông ta.
Mấy bà hàng xóm ngoài cửa sổ nghe vậy, liền tặc lưỡi xuýt xoa.
“Ông Lương tốt quá. Phải tay người khác, đẩy thằng con hoang đó vào trại trẻ mồ côi lâu rồi.”
“Đúng đấy, con Ngọc Dao ngày xưa lăng loàn như thế, đẻ ra cái thứ nghiệp chướng, may mà có người bác rộng lượng cưu mang.”
Từng lời bàn tán lọt vào tai tôi. “Con hoang”. “Lăng loàn”. Những từ ngữ ấy tôi đã nghe hàng ngàn lần khi còn sống, và chính tôi cũng từng dùng nó để lăng mạ vợ mình. Nhưng giờ phút này, nghe chúng phát ra từ miệng người khác, dưới sự đạo diễn hoàn hảo của anh trai tôi, tôi bỗng cảm thấy một sự gờn gợn khó tả.
Hà Quốc Lương quay vào trong, nụ cười hiền từ trên mặt lập tức biến mất, thay vào đó là ánh mắt lạnh lẽo, toan tính. Ông ta liếc nhìn xấp tiền trên bàn, hất hàm với vợ.
“Cất đi. Còn thằng kia, vào bếp lấy cơm nguội mà ăn, rồi ra ngoài kho ngủ. Đừng có mang cái mùi dầu mỡ ô uế đó lây ra ghế sô pha của tao.”
Sự chuyển đổi thái độ nhanh như chớp của Quốc Lương khiến tôi sững sờ. Đây là người anh trai mà tôi luôn kính trọng sao? Người đã an ủi tôi khi tôi gầm thét trong đau đớn vì bắt quả tang bức thư tình của vợ?
Hà Nhẫn không phản ứng. Nó đã quá quen với việc này. Nó đi vào bếp, bới một bát cơm nguội ngắt, gắp vài cọng rau xào thừa đã bóng mỡ lợn từ trưa, rồi lầm lũi đi ra phía sau nhà.
Phía sau khu chung cư là một khoảng sân nhỏ, nơi người ta cơi nới thêm một cái nhà kho bằng tôn lợp mái phi công, rộng chừng bốn mét vuông. Đó là chỗ ngủ của Hà Nhẫn.
Tôi đi theo nó vào trong. Căn kho ẩm thấp, nồng nặc mùi gián và nấm mốc. Một chiếc nệm cũ kỹ rách bươm trải dưới đất, chiếc chăn mỏng dính đầy những vệt ố vàng. Không có lò sưởi. Không có quạt. Chỉ có một chiếc bóng đèn tròn công suất thấp tỏa ra thứ ánh sáng leo lét.
Hà Nhẫn ngồi bệt xuống nệm. Nó và vội bát cơm nguội. Không có thức ăn mặn, chỉ có cơm trắng khô khốc cọ xát vào cổ họng. Vừa nuốt, nó vừa nhăn mặt vì cơn đau từ mạn sườn dội lên. Ăn xong, nó đặt bát xuống, cởi chiếc áo khoác ngoài ra.
Lúc này, tôi mới nhìn rõ toàn bộ sự tàn phá trên cơ thể nó. Dưới lớp áo mỏng, những vết bầm tím loang lổ khắp mạn sườn phải, sưng vù lên kinh dị. Lưng nó in hằn những vết sẹo dài, có lẽ là dấu tích của những trận đòn roi từ nhiều năm trước. Một đứa trẻ mười bảy tuổi, độ tuổi đáng lẽ phải ngồi trên ghế nhà trường, cười đùa với bạn bè, thì lại mang một cơ thể tàn tạ như một lão già sáu mươi đã trải qua vô số trận đòn thù.
Tôi đứng lặng trong góc kho. Khói từ nén hương âm phách lượn lờ quanh tôi, nhắc nhở rằng thời gian của đêm thứ nhất sắp hết. Đốm đỏ của nén hương đã cháy đi một đoạn ngắn.
Hà Nhẫn kéo chiếc chăn mỏng đắp ngang hông. Nó không nằm xuống ngay. Nó đưa đôi bàn tay chai sần, đầy vết bỏng, cẩn thận thò vào lớp túi áo lót may giấu sát ngực trái. Từ trong đó, nó lôi ra một vật nhỏ, được bọc cẩn thận bằng ba lớp nilon trong suốt.
Nó tháo từng lớp nilon ra. Động tác của nó vô cùng nhẹ nhàng, nâng niu, trái ngược hẳn với sự thô lỗ, cộc cằn của nó ở xưởng cơ khí.
Lớp nilon cuối cùng mở ra. Đó là một bức ảnh. Một bức ảnh màu đã cũ, các mép gấp nhàu nát, nhạt nhòa, nhưng vẫn có thể nhìn rõ hình người bên trong.
Đó là ảnh cưới của tôi.
Trong ảnh, tôi mặc bộ vest rẻ tiền đi thuê, tóc vuốt keo cứng ngắc, khuôn mặt tuy gượng gạo nhưng ánh mắt lại ngập tràn một thứ hạnh phúc ngốc nghếch. Đứng cạnh tôi là Lâm Ngọc Dao. Cô ấy mặc chiếc váy cưới màu trắng ngà, mỉm cười dịu dàng, nụ cười mà tôi từng cho là đẹp nhất thế gian, trước khi tôi tự tay bóp nát nó bằng sự ghen tuông mù quáng.
Hà Nhẫn dùng ngón tay cái thô ráp, khẽ vuốt ve khuôn mặt của tôi trong bức ảnh. Rồi vuốt sang mặt Ngọc Dao. Ánh mắt nó lúc này không còn sự lạnh lẽo tê liệt nữa. Nó vỡ vụn. Một nỗi buồn thăm thẳm, đặc quánh trào dâng trong đôi mắt đen láy ấy.
Nó đưa bức ảnh kề sát lên mặt mình, cọ vào má, rồi nhắm mắt lại. Trong không gian tĩnh lặng của nhà kho ẩm mốc, tôi nghe thấy giọng nó vang lên. Khàn đặc. Nhỏ xíu. Như tiếng một con thú non bị thương đang thoi thóp gọi bầy.
“Cha… mẹ…”
Hai từ đó đập thẳng vào lồng ngực vô hình của tôi như một búa tạ.
Nó gọi tôi là cha.
Đứa bé mà tôi đã chửi rủa là con hoang. Đứa bé mà tôi đã đánh đập, hắt hủi suốt mười bốn năm. Đứa bé bị tôi tước đoạt mọi tình yêu thương, bị tôi đẩy vào vòng tay tàn nhẫn của người bác ruột… Nó vẫn giữ bức ảnh cưới của tôi sát lồng ngực mình. Nó vẫn gọi tôi là cha.
“Tại sao?”
Tôi muốn gào thét lên. Tôi muốn túm lấy cổ áo nó mà hỏi. Tại sao mày không hận tao? Tại sao mày lại giữ bức ảnh của một kẻ đã đày đọa cuộc đời mày? Tại sao mày lại nhìn tao bằng ánh mắt khao khát đến thế?
Nhưng tôi không thốt ra được lời nào. Cục đá trong ngực tôi, thứ mà tôi tưởng chừng không bao giờ có thể lung lay, đột nhiên nứt ra một đường nhỏ. Một luồng cảm xúc đau đớn, chua xót chưa từng có trào lên, thiêu đốt chút ý thức còn lại của một hồn ma.
Đúng lúc đó, tia nắng đầu tiên của buổi bình minh xé toạc màn sương mù Trùng Khánh, rọi qua khe hở của mái tôn. Nén hương âm phách giật búng một cái. Sợi khói rút mạnh lại. Lực hút từ cõi âm ập đến, mạnh mẽ và không thể cưỡng lại, xé toạc không gian xung quanh tôi.
Tôi bị xé ra khỏi trần gian, kéo tuột vào bóng tối. Hình ảnh cuối cùng tôi nhìn thấy là Hà Nhẫn cẩn thận bọc lại bức ảnh cưới, đặt nó áp sát vào ngực trái, nơi trái tim nó đang đập từng nhịp nhọc nhằn, rồi cuộn tròn người lại trong chiếc chăn mỏng.
Tôi trở lại cõi âm. Xung quanh lại là sương mù xám xịt, lại là dòng người vô hồn xếp hàng dằng dặc. Nhưng tôi không còn là tôi của ba năm qua nữa.
Tôi đứng thẫn thờ nhìn nén hương âm phách trong tay. Nó đã cháy hết một phần năm. Còn bốn đêm nữa.
Trong đầu tôi lúc này, sự cay đắng của kẻ bị cắm sừng đã biến mất tăm, thay vào đó là một mớ hỗn độn, và một câu hỏi tàn nhẫn cứ lặp đi lặp lại không ngừng, gào thét trong tâm trí tôi.
Vì sao nó vẫn giữ ảnh của tôi?
Hà Kiến Trung, mày thực sự đã bỏ lỡ điều gì khi còn sống? Mày đã làm cái quái gì với cuộc đời của mẹ con nó vậy?
Tôi nắm chặt phần còn lại của nén hương. Đêm mai. Tôi nhất định phải tìm ra sự thật. Chờ cha, Nhẫn nhi. Cha sẽ quay lại.
