Tôi tên là Hạ Nguyệt Vi, sinh ra ở vùng rừng núi Tương Tây, thuộc phía tây tỉnh Hồ Nam. Nơi đó nổi tiếng với thuật cản thi và những lá bùa Miêu chứa đầy bí ẩn. Tôi là truyền nhân đời thứ năm của Hạ gia Huyền Môn. Từ năm bảy tuổi, khi những đứa trẻ khác còn đang chơi nhảy dây hay bắn bi, tôi đã bị bà ngoại nhốt trong phòng tối, học cách phân biệt sự khác nhau giữa mùi tử khí của người chết trôi và người chết cháy. Bà ngoại tôi vừa là người thân duy nhất, vừa là sư phụ nghiêm khắc nhất. Bà truyền lại cho tôi ba món pháp khí gia truyền: một cây bút chu sa chuyên dùng để vẽ bùa giam giữ linh hồn, một chiếc đèn dầu sở đúc bằng đồng xanh từ thời cổ đại có khả năng đổi màu ngọn lửa theo nồng độ âm khí, và một sợi dây ngũ sắc tết từ năm loại chỉ tơ của năm dân tộc thiểu số khác nhau, dùng để trói buộc những thực thể không thuộc về thế giới dương gian.
Mọi người đừng quên ấn chuông theo dõi cho Phở nha, truyện được lên sóng vào lúc năm giờ chiều hằng ngày.
Bà ngoại qua đời khi tôi vừa tròn mười chín tuổi. Trước lúc nhắm mắt, bà không dặn dò tôi phải làm rạng danh gia tộc, cũng chẳng yêu cầu tôi phải diệt ma trừ yêu cứu vớt chúng sinh. Bà chỉ nắm chặt tay tôi, ánh mắt đục ngầu nhìn xoáy vào khoảng không vô định, thều thào để lại một câu di huấn. Bà nói, thuốc là để chữa bệnh cho người, tuyệt đối không được chữa bệnh cho thú. Con bước chân vào giang hồ, điều khó nhất không phải là nhìn thấu ma quỷ, mà là phải phân biệt được ai là con người thực sự, và ai là những con thú hoang đang khoác lên mình tấm da người.
Sau tang lễ của bà, tôi xách hành lý rời khỏi ngọn núi mù sương, tiến thẳng đến chốn phồn hoa đô hội. Tôi mở một văn phòng nhỏ, treo biển là công ty tư vấn phong thủy môi trường. Nghe thì rất khoa học, rất hợp thời đại, nhưng thực chất công việc của tôi là chuyên nhận thanh tẩy những mảnh đất dữ, những căn nhà có người chết oan, phục vụ chủ yếu cho tầng lớp khách quý lắm tiền nhiều của. Trải qua năm năm lăn lộn trong nghề, tôi đúc kết được một chân lý rất đơn giản. Ma quỷ bao giờ cũng có một mức giá cụ thể, nhưng lương tâm thì hoàn toàn vô giá. Tất nhiên, vô giá ở đây nghĩa là tôi không bán, trừ khi đối phương chịu trả thêm sáu phần trăm thuế giá trị gia tăng.
Sáng thứ tư tuần trước, tôi nhận được một cuộc gọi thông qua đường dây giới thiệu đặc biệt. Đầu dây bên kia xưng là trợ lý của chủ tịch tập đoàn bất động sản Hồng Đạt, muốn sắp xếp một cuộc gặp trực tiếp với tôi. Tập đoàn Hồng Đạt không phải là cái tên xa lạ. Bọn họ chuyên thâu tóm những khu đất vàng ở ngoại ô để xây dựng các trang viên nghỉ dưỡng và trung tâm thương mại cao cấp. Người đứng đầu là Mã Hồng Đạt, một doanh nhân nổi tiếng với vẻ ngoài nho nhã, thường xuyên xuất hiện trên các trang tin tức truyền thông, tay cầm xẻng xúc đất khởi công, miệng luôn nói về trách nhiệm xã hội.
Đúng ba giờ chiều, tôi bước vào văn phòng làm việc của hắn nằm trên tầng cao nhất của một tòa cao ốc chọc trời. Căn phòng rộng thênh thang, trải thảm lông cừu dày cộp, đồ nội thất toàn bộ làm từ gỗ trắc đỏ chạm trổ tinh xảo. Mã Hồng Đạt ngồi sau chiếc bàn làm việc khổng lồ, mặc một bộ vest cắt may thủ công đắt tiền, mái tóc chải chuốt gọn gàng không một nếp rối. Hắn khoảng gần năm mươi tuổi, khuôn mặt chữ điền, đeo kính gọng vàng, thoạt nhìn toát lên vẻ đạo mạo của một học giả hơn là một tay buôn đất.
Thấy tôi bước vào, hắn đứng dậy, chủ động đưa tay ra bắt, nụ cười nở trên môi ấm áp và chuẩn mực hệt như được lập trình sẵn.
“Hạ sư phụ, nghe danh cô đã lâu. Quả nhiên tuổi trẻ tài cao, trăm nghe không bằng một thấy.”
Tôi lướt ánh mắt qua bàn tay hắn, khẽ gật đầu đáp lễ rồi rút tay về rất nhanh. Bàn tay hắn lạnh toát, lòng bàn tay lại có những vết chai sần không phù hợp với thân phận một vị chủ tịch chỉ quen cầm bút ký hợp đồng. Tôi kéo chiếc ghế bọc da ngồi xuống, vắt chéo chân, đi thẳng vào vấn đề.
“Mã tiên sinh quá khen. Chúng ta đều là người bận rộn, ông cứ nói thẳng lý do tìm tôi đi. Phong thủy mộ phần, trấn trạch cầu tài, hay là dọn dẹp những thứ không sạch sẽ?”
Mã Hồng Đạt thở dài một hơi. Hắn tháo kính xuống, rút chiếc khăn tay lụa ra lau nhẹ khóe mắt. Một nếp nhăn nhỏ hằn lên giữa trán, biểu cảm đau buồn được phô diễn vô cùng hoàn hảo.
“Gần đây tập đoàn chúng tôi vừa mua lại một mảnh đất ở trung tâm trấn Thanh Hà. Dự định ban đầu là xây dựng một khu thương mại phức hợp. Nhưng mà… từ lúc bắt đầu đưa máy móc vào khởi công, mọi chuyện liên tục gặp trục trặc. Không, phải nói là vô cùng tà môn.”
Tôi tựa lưng vào ghế, ra hiệu cho hắn tiếp tục. Hắn kể lại bằng chất giọng trầm thấp, thỉnh thoảng lại ngập ngừng như thể đang cố gắng kìm nén sự sợ hãi. Lô đất đó vốn là nền cũ của một tiệm thuốc bắc. Hai mươi năm trước, một trận hỏa hoạn khủng khiếp đã thiêu rụi toàn bộ căn nhà gỗ, biến mọi thứ thành tro bụi.
Suốt hai thập kỷ qua, mảnh đất bị bỏ hoang, cỏ dại mọc um tùm. Khi tập đoàn Hồng Đạt tiến hành giải tỏa, dọn dẹp mặt bằng để đào móng, những chuyện kỳ dị bắt đầu xảy ra. Ngày đầu tiên, ba người công nhân phụ trách dọn gạch vụn tự nhiên kêu la thảm thiết, hai bàn tay bọn họ sưng vù, nổi đầy những vết rộp nước đỏ au y hệt như bị bỏng nặng, dù xung quanh không hề có lửa hay hóa chất. Ngày thứ ba, một tài xế lái máy xúc đang ngủ trong lán trại bỗng nhiên bật dậy giữa đêm, đôi mắt trợn ngược trắng dã, miệng gào thét những âm thanh không rõ nghĩa. Anh ta lao thẳng ra đường quốc lộ lớn, bị một chiếc xe tải chở hàng tông trúng, gãy nát hai chân. Kỳ lạ nhất là toàn bộ máy xúc, máy ủi, hễ cứ đào sâu xuống lòng đất quá ba tấc là động cơ tự động tắt ngấm, khói đen bốc lên nghi ngút từ buồng máy, thợ sửa xe chuyên nghiệp đến kiểm tra cũng đành bó tay gãi đầu.
Mã Hồng Đạt chắp hai tay để lên bàn, ánh mắt nhìn tôi tha thiết.
“Hạ sư phụ, tôi không giấu gì cô. Người chết trong đám cháy năm xưa… chính là cô ruột của tôi. Bà ấy tên là Châu Bích Vân, mọi người hay gọi là Châu Lão Thái, một bà lang vườn hiền lành sống cả đời ở trấn Thanh Hà. Tôi nghĩ… có lẽ linh hồn cô tôi vẫn còn vương vấn nơi trần thế, oán hận vì cái chết thê thảm nên mới quấy phá, không cho thi công.”
Tôi nhướng một bên chân mày, ngón tay gõ nhịp nhàng lên mặt bàn gỗ trắc. Khách hàng đóng vai người nhà đau khổ, kịch bản này tôi đã gặp không dưới tám chục lần.
“Nếu đã là cô ruột của ông, vì sao ông không rước vong linh bà ấy lên chùa siêu độ, mà lại vác máy xúc đến đào xới nền nhà cũ của người ta? Bà ấy tức giận cũng là điều dễ hiểu thôi.”
Mã Hồng Đạt cười gượng gạo, nét mặt lộ vẻ bối rối rất đạt chuẩn. Hắn giải thích rằng hồi đó gia đình nghèo khó, không có điều kiện lo liệu tang lễ chu toàn. Bây giờ làm ăn phát đạt, hắn muốn xây dựng khu thương mại để tạ ơn quê hương, đồng thời định lập một bàn thờ lớn cho cô ruột ngay trong sảnh chính của tòa nhà. Chỉ là linh hồn bà ấy dường như không hiểu được tấm lòng hiếu thảo của đứa cháu trai này.
Tôi dừng động tác gõ tay, mỉm cười nhìn thẳng vào đôi mắt đang cố tỏ ra chân thành của hắn.
“Được rồi. Chuyện ma quỷ quấy phá công trường tôi xử lý được. Nhưng mức phí của tôi không hề rẻ đâu. Tôi không tính tiền theo gói, cũng không tính theo giờ. Tôi tính phí theo diện tích. Mảnh đất đó rộng bao nhiêu?”
Hắn đáp ngay lập tức, không cần suy nghĩ.
“Khoảng sáu trăm mét vuông.”
“Tốt. Sáu nghìn tệ cho mỗi mét vuông. Ngoài ra, vì tình trạng công nhân bị thương đã xảy ra, chứng tỏ thực thể này có khả năng tấn công vật lý, tôi sẽ thu thêm ba mươi phần trăm phụ phí rủi ro sinh mạng. Tổng cộng là bốn triệu sáu trăm tám mươi nghìn tệ. Thanh toán trước năm mươi phần trăm, phần còn lại chuyển khoản ngay sau khi tôi dọn sạch bãi đất. Ông thấy sao?”
Tôi cố tình đưa ra một cái giá cắt cổ, một con số đủ để khiến bất kỳ vị đại gia keo kiệt nào cũng phải nhăn mặt nhảy dựng lên mặc cả. Nhưng Mã Hồng Đạt không hề chớp mắt. Hắn rút cây bút máy mạ vàng từ trong túi áo ngực ra, bấm nút gọi thư ký mang hợp đồng vào, rồi đặt bút ký roẹt một đường dứt khoát.
“Không thành vấn đề, Hạ sư phụ. Tiền bạc không quan trọng. Tôi chỉ cần cô giải quyết dứt điểm chuyện này trong vòng ba ngày. Đội thi công không thể đình trệ thêm được nữa, mỗi ngày trôi qua tôi lỗ hàng chục vạn tệ. Chỉ cần mảnh đất sạch sẽ, tôi sẽ thưởng thêm cho cô.”
Tôi cầm lấy bản hợp đồng, nhìn nét chữ ký sắc lẹm của hắn, trong lòng âm thầm đánh xuống một dấu gạch chéo đỏ chót. Một kẻ kinh doanh lõi đời, tính toán từng đồng từng hào, lại có thể dễ dãi chấp nhận một cái giá trên trời mà không thèm cau mày dù chỉ một cái. Sự hào phóng bất thường này chỉ chứng minh một điều duy nhất. Thứ mà hắn đang muốn che giấu dưới mảnh đất kia, chắc chắn mang giá trị đắt đỏ hơn số tiền hắn vừa bỏ ra gấp hàng trăm lần. Hoặc là, hậu quả nếu sự thật bị phanh phui sẽ khiến hắn mất đi toàn bộ gia sản.
Tôi gấp gọn bản hợp đồng cất vào túi xách, đứng dậy mỉm cười.
“Hợp tác vui vẻ, Mã tiên sinh. Chiều nay tôi sẽ xuất phát đến trấn Thanh Hà.”
Hai giờ chiều, chiếc xe bán tải địa hình của tôi lăn bánh rời khỏi thành phố. Người cầm lái là Cố Minh, một cậu nhóc hai mươi sáu tuổi, là đàn em đồng môn xa lắc xa lơ của tôi. Sư phụ của Cố Minh từng học lỏm được vài chiêu xem tướng mạo từ bà ngoại tôi, nên cậu ta cứ nằng nặc gọi tôi là sư tỷ. Cố Minh tính tình nhát gan, thấy gián cũng hét, thấy chó sủa cũng giật mình, nhưng ưu điểm lớn nhất là cậu ta rất ngoan ngoãn, lái xe cẩn thận, mang vác đồ nghề nặng nhọc không bao giờ kêu ca. Đóng vai trò làm tài xế kiêm trợ lý hậu cần, cậu ta theo chân tôi đi khắp nơi để tích lũy kinh nghiệm, với hy vọng một ngày nào đó có thể tự mở phòng bói toán riêng.
Cố Minh vừa ôm vô lăng vừa lẩm bẩm tính toán.
“Sư tỷ, vụ này chúng ta vớ bẫm rồi! Bốn triệu sáu trăm tám mươi nghìn tệ. Trừ đi chi phí xăng xe, ăn ở khách sạn, tiền mua bùa chú chu sa, tỷ chia cho em năm phần trăm thôi là em đủ tiền đặt cọc mua một chiếc xe hơi mới rồi. Cái ông chủ tịch Mã đó đúng là hào phóng thật, tiêu tiền như nước.”
Tôi liếc nhìn cậu ta qua gương chiếu hậu, khẽ cười khẩy.
“Thằng nhóc ngốc nghếch. Trên đời này làm gì có bữa ăn nào miễn phí. Kẻ càng vung tiền mạnh tay cho những chuyện tâm linh, thì nghiệp chướng trên vai hắn càng nặng. Cậu tưởng hắn hào phóng sao? Hắn đang dùng tiền để bịt miệng chúng ta đấy.”
Cố Minh rụt cổ lại, liếm môi khô khốc.
“Bịt… bịt miệng chuyện gì cơ? Chẳng phải ông ta nói vong hồn cô ruột quấy phá sao?”
“Cậu dùng cái đầu chứa đầy bã đậu của cậu mà suy nghĩ đi. Nếu thật sự là người nhà, hắn đã tìm hòa thượng về tụng kinh siêu độ, lập đàn chay cầu siêu. Đằng này hắn tìm đến công ty phong thủy chuyên dọn dẹp hung trạch, yêu cầu xử lý dứt điểm trong ba ngày. Từ ‘xử lý dứt điểm’ trong ngôn ngữ của kẻ có tiền, nghĩa là đánh cho hồn xiêu phách tán, vĩnh viễn không thể siêu sinh. Cậu nghĩ xem, có đứa cháu hiếu thảo nào lại muốn đánh tan hồn phách cô ruột mình không?”
Cố Minh im bặt, mồ hôi lạnh bắt đầu rịn ra trên trán. Cậu ta nuốt nước bọt cái ực, hai tay nắm chặt vô lăng hơn. Tôi không dọa cậu ta nữa, nhắm mắt tựa đầu vào ghế nghỉ ngơi. Đường đi từ thành phố đến trấn Thanh Hà mất khoảng ba tiếng đồng hồ.
Năm giờ chiều, chúng tôi tiến vào địa phận trấn Thanh Hà. Khác với vẻ sầm uất của một khu du lịch ngoại ô đang phát triển, nơi đây vẫn mang dáng dấp của một thị trấn cổ kính, với những con đường lát đá xanh và những ngôi nhà mái ngói cong vút. Lô đất của tập đoàn Hồng Đạt nằm ngay tại vị trí đắc địa nhất, mặt tiền hướng ra con đường chính, lưng tựa vào một nhánh sông nhỏ. Xung quanh là các dãy cửa hàng buôn bán tấp nập, người xe qua lại ồn ào náo nhiệt.
Nhưng khi bước qua hàng rào tôn xanh mà đội thi công dựng lên để che chắn, một luồng không khí hoàn toàn khác ập vào mặt chúng tôi.
Bên ngoài hàng rào là mùa hè oi ả, nhiệt độ lên tới ba mươi lăm độ xê. Bên trong hàng rào, không khí lạnh buốt như vừa mở cửa một hầm chứa đá băng. Sự chênh lệch nhiệt độ rõ rệt đến mức Cố Minh phải rùng mình, vội vàng kéo khóa chiếc áo khoác gió lên tận cổ.
Tôi đứng khoanh tay, đảo mắt quan sát toàn bộ khu vực. Mảnh đất rộng sáu trăm mét vuông đã bị san phẳng, phơi ra lớp đất vàng khè trộn lẫn vô số mảnh gạch vụn cháy đen. Có một điều cực kỳ bất hợp lý. Mảnh đất này đã bị bỏ hoang hai thập kỷ. Ở những khu đất trống khác, chỉ cần qua một mùa mưa, cỏ dại đã mọc cao ngập đầu gối. Vậy mà ở đây, mặt đất phẳng lỳ, trơ trọi, không có lấy một cọng cỏ, một mầm cây nào nhú lên. Không chỉ vậy, tôi tuyệt nhiên không nghe thấy tiếng dế mèn kêu, không thấy bóng dáng một con ruồi, con muỗi, hay bất kỳ sinh vật nhỏ bé nào bay lượn. Những con chó hoang chạy dọc bờ sông, khi đến gần khu đất này đều cụp đuôi, gầm gừ trong cổ họng rồi hoảng sợ đi vòng sang hướng khác.
Nơi này từ chối mọi sự sống.
Tôi hít một hơi thật sâu. Không khí không có mùi ẩm mốc của đất hoang, cũng không có mùi tanh của nước sông. Thay vào đó, một mùi hương cực kỳ đặc trưng phảng phất bay lẩn khuất trong gió. Mùi thảo dược. Mùi của rễ cây phơi khô, mùi của lá thuốc sao vàng, thoang thoảng nhưng bám chặt vào khứu giác.
“Tiểu Cố, lấy đồ nghề ra đây.”
Tôi ra lệnh. Cố Minh lật đật mở cốp xe, lôi ra chiếc ba lô sờn cũ. Tôi nhận lấy chiếc đèn dầu sở bằng đồng xanh, cẩn thận châm lửa.
Ngọn lửa nhỏ xíu bùng lên. Ban đầu, nó có màu vàng cam ấm áp. Nhưng ngay khi tôi bước chân vào phạm vi của móng nhà cũ, ngọn lửa đột ngột vặn vẹo dữ dội như có người đang thổi mạnh vào nó. Màu vàng cam nhanh chóng bị nuốt chửng, thay thế bằng một màu xanh lam đậm đặc, lạnh lẽo, chiếu thứ ánh sáng quỷ dị lên khuôn mặt tái mét của Cố Minh. Ngọn lửa nhảy múa lật bật, phát ra những tiếng xèo xèo nhỏ xíu.
“Sư tỷ… ngọn lửa màu xanh lam… âm khí ở đây… nồng độ này…”
Cố Minh lắp bắp, lùi lại phía sau hai bước. Theo lý thuyết phong thủy, lửa đèn dầu sở đổi màu xanh nhạt nghĩa là có âm hồn vất vưởng. Màu xanh lục là có ác quỷ mang oán khí. Còn màu xanh lam đậm đặc như thế này, chứng tỏ thực thể trú ngụ tại đây đã tồn tại rất lâu, hấp thụ khí thái âm của đất trời, oán niệm sâu sắc đến mức có thể tác động trực tiếp lên thế giới vật lý.
Tôi không trả lời cậu ta, tay cầm đèn dầu, bước chậm rãi dọc theo chu vi của nền nhà cũ. Tôi cúi xuống, nhặt một viên gạch nung bị cháy đen thui lên xem xét. Bề mặt viên gạch sần sùi, lớp than bám chặt vào các khe nứt. Tôi di ngón tay cái miết mạnh lên lớp than, đưa lên mũi ngửi. Mùi xăng. Rất loãng, gần như đã bay hơi hoàn toàn sau hai chục năm, nhưng khứu giác được huấn luyện từ nhỏ của tôi vẫn nhận ra sự hiện diện của hợp chất hydrocarbon.
Tôi tiếp tục đi đến ba góc còn lại của móng nhà, lặp lại hành động kiểm tra các viên gạch vụn. Kết quả hoàn toàn giống nhau.
Tôi ném viên gạch xuống đất, vỗ vỗ hai tay vào nhau phủi bụi, khóe môi nhếch lên tạo thành một nụ cười lạnh nhạt.
“Tai nạn hỏa hoạn do bất cẩn làm đổ đèn dầu ư? Lão già Mã Hồng Đạt đúng là coi tôi như con nít ba tuổi.”
“Sao vậy sư tỷ? Chị phát hiện ra điều gì à?”
“Nhìn kỹ những vết cháy trên gạch đi. Nếu ngọn lửa bắt nguồn từ một điểm do đổ đèn dầu, nó sẽ lan rộng theo hình rẽ quạt, vết cháy ở tâm điểm sẽ sâu nhất và nhạt dần về các phía. Nhưng gạch ở cả bốn góc nền nhà này đều có mức độ carbon hóa giống hệt nhau. Lửa bùng lên đồng thời từ bốn góc. Đây không phải tai nạn. Đây là một vụ phóng hỏa có chủ đích, dùng chất xúc tác là xăng để đảm bảo ngọn lửa bùng phát nhanh nhất và thiêu rụi mọi lối thoát.”
Cố Minh trợn tròn mắt, há hốc miệng không nói nên lời.
Tôi quay mặt nhìn về phía trung tâm mảnh đất, nơi bóng tối đang dần buông xuống, nuốt chửng những tia nắng cuối cùng của ngày. Việc thi công dở dang tạo ra những hố sâu nham nhở, trông như những vết thương hở miệng trên cơ thể mặt đất.
“Đi ăn tối thôi. Đêm nay chúng ta sẽ cắm trại ở đây. Tôi muốn xem thử, bà lang vườn Châu Lão Thái kia rốt cuộc muốn kể cho chúng ta nghe câu chuyện gì.”
Mười một giờ đêm. Trấn Thanh Hà đã chìm vào giấc ngủ say. Ánh đèn đường leo lét hắt những cái bóng dài ngoằng, méo mó qua hàng rào tôn. Không gian tĩnh lặng đến mức có thể nghe rõ tiếng nhịp tim đập thình thịch của Cố Minh đang ngồi xổm bên cạnh chiếc xe bán tải đỗ ngoài hàng rào.
Tôi bảo Cố Minh ở ngoài canh chừng, còn bản thân thì xách ba lô bước vào giữa bãi đất trống. Nhiệt độ lúc này đã giảm xuống mức thấp nhất, cái lạnh ngấm qua lớp áo, len lỏi vào tận xương tủy. Tôi mở ba lô, lấy ra một lọ bột chu sa nguyên chất đỏ rực. Kẹp lọ chu sa bằng hai ngón tay, tôi vừa đi lùi vừa rải bột xuống đất, tạo thành một vòng tròn khép kín có đường kính khoảng hai mét. Đây là vòng bảo hộ cơ bản nhất, ngăn cản âm khí xâm nhập vào cơ thể trong quá trình giao tiếp.
Tôi ngồi khoanh chân ở chính tâm vòng tròn, đặt chiếc đèn dầu sở ngay phía trước mặt. Ngọn lửa xanh lam vẫn cháy đều đặn, không múa may dữ dội như ban chiều, nhưng màu sắc lại càng lúc càng đậm hơn, tựa như một viên bích ngọc phát sáng trong đêm.
Tôi nhắm mắt lại, điều hòa nhịp thở. Theo quy tắc của gia môn, bất luận đối diện với loại ma quỷ nào, bước đầu tiên luôn phải là “tiên lễ hậu binh” – dùng lễ nghĩa mời ra đối thoại, nếu đối phương cự tuyệt hoặc tấn công, lúc đó mới dùng đến bạo lực trấn áp. Tôi chắp hai tay trước ngực, khẽ lẩm bẩm bài chú gọi hồn bằng thứ thổ ngữ cổ xưa của vùng Tương Tây. Âm thanh cất lên trầm thấp, hòa vào tiếng gió rít qua những khe hở của hàng rào.
Đúng lúc đó, gió đột ngột ngừng thổi. Sự tĩnh lặng trở nên đặc quánh, nặng nề đè ép lên màng nhĩ.
Khứu giác của tôi lập tức bắt được sự biến đổi. Không gian vốn đang ngập tràn cái lạnh vô hình, bỗng nhiên bị lấp đầy bởi một mùi hương ngọt lịm. Mùi cam thảo. Nó nồng nặc và rõ nét đến mức tôi có cảm giác như ai đó vừa nhét một nắm cam thảo thái lát vào tận mũi mình.
Chưa đầy mười giây sau, mùi cam thảo biến mất, thay thế bằng một mùi hương hăng hắc, cay nồng. Mùi phòng phong.
Tiếp theo là mùi thơm ấm, hơi hăng của bạch chỉ.
Cuối cùng, một mùi hương chát đắng, ngột ngạt và mang theo cảm giác tê dại xộc thẳng vào cuống họng. Mùi xuyên ô – một vị thuốc có độc tính cực mạnh nếu không được bào chế kỹ lưỡng.
Bốn mùi thảo dược nối tiếp nhau xuất hiện, lớp lang rõ ràng, hệt như có một bàn tay vô hình đang bốc từng vị thuốc đặt lên bàn cân trước mặt tôi.
Ngay phía trước vòng tròn chu sa, cách chỗ tôi ngồi khoảng ba mét, có một mảng tường vôi cũ kỹ may mắn không bị máy xúc ủi đổ, đứng trơ trọi giữa bãi đất. Một âm thanh sột soạt vang lên rất khẽ, giống như móng tay cào nhẹ lên mặt giấy nhám.
Tôi mở bừng mắt, nhìn chằm chằm vào mảng tường. Dưới ánh sáng xanh lam mờ ảo của ngọn đèn, một cảnh tượng kỳ dị đang diễn ra. Bụi đỏ, những hạt bụi li ti sinh ra từ gạch nung bị vỡ nát, dường như đang chịu sự điều khiển của một lực lượng vô hình. Chúng bay lên khỏi mặt đất, cuốn vào nhau tạo thành những dòng xoáy nhỏ xíu, rồi từ từ bám chặt lên bề mặt bức tường vôi trắng.
Từng nét, từng nét một. Những hạt bụi đỏ ghép lại với nhau, hiện ra những chữ Hán cổ viết theo lối hành thư mềm mại nhưng lực bút lại vô cùng run rẩy.
Tôi nín thở, đọc nhẩm những dòng chữ vừa xuất hiện.
Cam thảo ba chỉ.
Phòng phong hai chỉ.
Bạch chỉ một chỉ rưỡi.
Xuyên ô nửa chỉ.
Một bài thuốc. Một hồn ma không hiện hình dọa nạt, không tạo ảo giác thắt cổ, không gào thét đòi mạng, mà lại kiên nhẫn đứng trong bóng tối để viết ra một bài thuốc bắc.
Tôi nhướng mày, bộ não bắt đầu phân tích dữ liệu với tốc độ cao. Cam thảo, phòng phong, bạch chỉ, xuyên ô. Nếu dùng để chữa bệnh, sự kết hợp này hoàn toàn vô lý, thậm chí xuyên ô có thể gây ngộ độc nếu kết hợp sai cách. Vậy mục đích của bài thuốc này là gì?
Tôi nhìn lại bốn vị thuốc. Chữ đầu tiên của mỗi vị. Cam. Phòng. Bạch. Xuyên. Không có ý nghĩa gì cả.
Khoảnh khắc tiếp theo, tôi chợt hiểu ra. Trong ngôn ngữ địa phương của vùng này, tên các vị thuốc thường được gọi bằng những từ lóng hoặc từ đồng âm để dân gian dễ nhớ. Tôi thử dịch các vị thuốc sang âm Hán Việt tương đồng về mặt ý nghĩa hoặc cách phát âm.
Cam thảo – vị ngọt, thường dùng để làm êmu dịu – chữ “Đình” (dừng lại).
Phòng phong – che chắn gió – chữ “Quật” (đào xới).
Bạch chỉ – màu trắng, đi tới – chữ “Khứ” (đi).
