Theo dõi phở để rùng mình trong đêm. Văn án: Nhà máy gốm Long Ký Diêu có chín cái lò. Sáu cái trên mặt đất, ba cái chìm trong lòng núi. Ba mươi năm trước, bảy người chết cháy trong lò và được chôn vùi bởi sự im lặng. Ba mươi năm sau, khi búa phá dỡ nện xuống, các lò bắt đầu thở lại. Da nạn nhân bóng loáng như men sứ. Khí quản đầy hơi nước sôi. Và tôi, Lục Thanh Ngô, bác sĩ pháp y, đứng giữa lòng lò lạnh ngắt, nghe tiếng đất rên rỉ dưới chân, hiểu rằng quỷ ở đây không mang mặt ma. Chúng mang mặt người, đeo thẻ ra vào, và biết chính xác giờ nào lòng đất sẽ há miệng.
Chiếc xe hai cầu của đội điều tra hình sự phanh gấp trước cổng sắt hoen gỉ. Bánh xe nghiến lên lớp sỏi dăm tạo ra những tiếng lạo xạo khô khốc. Bốn giờ chiều, mặt trời vắt vẻo trên đỉnh núi Thanh Vân, hắt thứ ánh sáng vàng vọt xuống khu nhà máy gốm Long Ký Diêu. Noi đây từng là niềm tự hào của cả khu vực Giang Nam, giờ chỉ còn là một đống phế tích đang chờ bị san phẳng để nhường chỗ cho dự án đô thị mới.
Tôi đẩy cửa bước xuống xe, xách theo thùng đồ nghề pháp y bằng nhôm hợp kim. Gió chiều thổi qua thung lũng, mang theo mùi đất sét ẩm mốc, mùi rêu phong và cả thứ mùi ngai ngái của kim loại rỉ sét. Một bầu không khí đặc quánh sự lụi tàn.
Kiều Dịch Hành, đội trưởng đội điều tra hình sự, bước xuống từ ghế lái. Anh khoác chiếc áo gió màu xám tro, vóc dáng cao lớn che khuất một nửa ánh nắng đang hắt vào mặt tôi. Từng là một kỹ sư kết cấu trước khi chuyển sang ngành cảnh sát, đôi mắt của Kiều Dịch Hành luôn mang theo sự đo lường sắc lạnh, giống như thể anh ta có thể bóc tách mọi tòa nhà thành những đường nét trên bản vẽ kỹ thuật.
“Bác sĩ Lục, vụ này e là hơi phiền phức.”
Kiều Dịch Hành thấp giọng nói, ánh mắt hướng về đám đông đang nhốn nháo phía sau dải băng phong tỏa màu vàng.
Tôi không đáp, chỉ đưa mắt quan sát. Cảnh sát địa phương đang chật vật duy trì trật tự. Hàng chục công nhân mặc áo phản quang tụ tập thành từng nhóm nhỏ, sắc mặt ai nấy đều tái nhợt. Khái niệm bảo vệ hiện trường của họ dường như chỉ dừng lại ở việc chăng một sợi dây ni lông, sau đó đứng vòng ngoài xì xào bàn tán.
“Tôi đã bảo mà! Cái lò số ba đó bị phong ấn ba mươi năm rồi! Đụng vào là rước họa vào thân!”
Một gã thợ độ tuổi ngũ tuần gào lên, giọng nói khản đặc vì sợ hãi.
“Bảy mạng người năm đó chết oan uổng, giờ họ về kéo người thế mạng đấy! Thằng Châu Văn chết thảm quá, trời ơi!”
Tôi khẽ nhếch mép. Một nụ cười nhạt đến mức gần như vô hình. Ở thời đại mà con người có thể gửi tàu thăm dò lên sao Hỏa, vẫn có những kẻ tin rằng ma quỷ rảnh rỗi đến mức nấp trong mấy đống gạch vụn để chờ kéo chân thợ phá dỡ.
“Oan hồn kéo người thế mạng sao?”
Tôi quay sang nhìn Kiều Dịch Hành, giọng phẳng lặng không gợn sóng.
“Nếu ma quỷ thực sự tồn tại và có năng lực vật lý để giết người, chắc ngành pháp y của chúng ta đã thất nghiệp từ thế kỷ trước. Hiện trường ở đâu?”
Kiều Dịch Hành hất hàm về phía cấu trúc khổng lồ hình bán cầu nằm sâu bên trong công trường.
“Lò nung số ba. Đội phá dỡ vừa cạy lớp gạch niêm phong cách đây một tiếng. Và họ tìm thấy Châu Văn ở bên trong.”
Chúng tôi sải bước qua dải băng phong tỏa. Đám đông công nhân dạt ra hai bên, nhìn tôi bằng ánh mắt vừa tò mò vừa e dè. Có lẽ bộ đồ vest đen cắt may sắc sảo và thùng nhôm lạnh lẽo trên tay tôi khiến họ liên tưởng đến sứ giả cõi âm hơn là một bác sĩ khoa học.
Càng tiến gần đến lò nung số ba, nhiệt độ xung quanh dường như càng giảm xuống. Cấu trúc vòm gạch chịu lửa khổng lồ hiện ra trước mắt, đen ngòm và im lìm như một cái miệng khổng lồ bị khâu chặt suốt ba thập kỷ. Lớp vữa xi măng niêm phong ngoài cửa lò vừa bị búa máy đập vỡ một mảng lớn, tạo thành một lỗ hổng nham nhở đủ cho hai người chui lọt.
Tôi dừng lại trước cửa lò, bật đèn pin cường độ cao. Luồng sáng trắng lạnh lẽo xuyên thủng bóng tối đặc quánh bên trong. Không khí tuôn ra từ lỗ hổng mang theo mùi hôi thối đặc trưng của không gian kín lâu ngày, pha trộn với một mùi hương kỳ lạ. Thứ mùi ngòn ngọt, khen khét, giống như mùi protein động vật bị nung chảy.
“Nạn nhân tên Châu Văn, hai mươi lăm tuổi, công nhân thuộc đội phá dỡ.”
Kiều Dịch Hành lật cuốn sổ tay, đọc nhanh tóm tắt.
“Mất tích khoảng hai giờ trước. Khi những người thợ khác đập vỡ lớp niêm phong, họ phát hiện anh ta đã chết bên trong. Vấn đề nằm ở chỗ…”
“Vấn đề nằm ở chỗ, cái lò này bị bịt kín ba mươi năm, không có dấu hiệu bị phá vỡ hay xây lại từ trước. Vậy Châu Văn chui vào bằng cách nào?”
Tôi tiếp lời, bước qua đống gạch vụn để chui vào trong vòm lò.
Không gian bên trong rộng hơn tôi tưởng tượng. Tường gạch chịu lửa xếp thành hình vòm cong vút, ám muội đen kịt từ những mẻ gốm của thế kỷ trước. Dưới mặt đất là lớp đất sét nện chặt, rải rác những mảnh vỡ gốm sứ sần sùi.
Và ở chính giữa bức tường cong phía trong cùng, Châu Văn đang ngồi đó.
Tôi hít một hơi thật sâu, tiến lại gần thi thể. Cảnh tượng trước mắt đủ sức vắt kiệt sự bình tĩnh của bất kỳ điều tra viên non tay nào.
Châu Văn ngồi bệt dưới đất, lưng tựa sát vào tường lò. Hai chân duỗi thẳng về phía trước. Điểm kỳ dị nhất là tư thế của hai cánh tay. Anh ta giơ hai tay lên cao ngang ngực, mười ngón tay xòe rộng, lòng bàn tay hướng ra ngoài trong một tư thế chống đỡ tuyệt vọng. Giống như thể trước khi chết, anh ta đang cố gắng dùng sức đẩy lùi một bức tường vô hình đang ập xuống đầu mình.
Nhưng thứ khiến đám công nhân bên ngoài hoảng loạn gào thét về ma quỷ không phải là tư thế, mà là làn da của nạn nhân.
Tôi đưa máy ảnh lên, bấm liên tục vài kiểu ảnh toàn cảnh trước khi quỳ một chân xuống cạnh thi thể. Ánh đèn pin rọi thẳng vào khuôn mặt Châu Văn. Toàn bộ bề mặt da của anh ta, từ khuôn mặt vặn vẹo đau đớn cho đến hai cánh tay trần lộ ra ngoài chiếc áo bảo hộ, đều phủ một lớp bóng loáng kỳ dị. Lớp màng mỏng manh ấy lấp lánh dưới ánh sáng, phản chiếu lại những tia sáng lạnh lẽo, trông giống hệt như lớp men ngọc bích tráng trên những chiếc bình gốm thượng hạng.
Không có dấu hiệu cháy đen. Không có vết bong tróc của bỏng lửa trực tiếp. Chỉ có một lớp men chết chóc bọc lấy cơ thể con người.
“Cô thấy sao?”
Kiều Dịch Hành ngồi xổm xuống cạnh tôi, mày nhíu chặt.
“Đám thợ bên ngoài đang đồn ầm lên rằng oan hồn thợ gốm đã tráng men Châu Văn để biến cậu ta thành tượng bồi táng.”
Tôi mở thùng đồ nghề, rút ra đôi găng tay cao su nitrile màu xanh nhạt. Tiếng găng tay ma sát vào da thịt vang lên ràn rạt giữa không gian tĩnh mịch.
“Nếu oan hồn biết tráng men sứ tinh xảo thế này, các nhà máy gốm hiện đại đã phá sản hết từ lâu rồi.”
Tôi đáp trả bằng chất giọng đều đều, không giấu giếm sự mỉa mai.
Tôi vươn tay, đặt hai ngón tay lên cẳng tay Châu Văn. Cảm giác truyền qua lớp găng tay cao su thật kỳ lạ. Bề mặt da lạnh ngắt, cứng nhắc, nhưng lại có độ nhám li ti vô cùng tinh vi. Tôi rút chiếc kính lúp chuyên dụng có gắn đèn viền LED từ trong túi áo ngực, kề sát vào bề mặt da nạn nhân.
Phóng đại lên gấp mười lần, sự thật về lớp men ma quái bắt đầu lộ diện. Dưới ống kính, hàng triệu tinh thể khoáng cực nhỏ bám chặt vào lớp biểu bì, kết tinh lại thành một màng mỏng.
“Tinh thể silite.”
Tôi thầm thì, thu kính lúp lại.
“Khoáng chất silite có rất nhiều trong đất sét khu vực núi Thanh Vân. Khi gặp hơi nước ở nhiệt độ và áp suất cực cao, chúng sẽ bay hơi, lơ lửng trong không khí. Khi nhiệt độ hạ xuống đột ngột, chúng ngưng tụ và kết tinh lên bề mặt lạnh hơn.”
Kiều Dịch Hành nhạy bén bắt ngay lấy trọng tâm.
“Ý cô là… hơi nước nóng?”
Tôi gật đầu, cầm chiếc kẹp y tế lật nhẹ cổ tay nạn nhân để kiểm tra mặt cắt của tổn thương.
“Chính xác. Anh nhìn kỹ xem. Tổn thương nhiệt trên cơ thể Châu Văn phân bổ cực kỳ đồng đều từ ngoài vào trong. Nếu anh ta bị bỏng do lửa bức xạ, bề mặt da sẽ bị than hóa, cháy đen, tạo ra sự chênh lệch nhiệt độ rõ rệt giữa các lớp mô. Nhưng ở đây không có muội than. Không có tro bụi. Quần áo bảo hộ của anh ta làm bằng sợi cotton pha nilon, nếu gặp lửa trực tiếp sẽ bắt cháy ngay lập tức. Nhưng quần áo vẫn nguyên vẹn, chỉ có dấu hiệu co rút nhẹ do nhiệt.”
Tôi buông tay nạn nhân xuống, rút một con dao mổ cán số bốn từ hộp dụng cụ. Lưỡi dao bằng thép carbon lóe lên một tia sáng lạnh.
“Người này không bị nung cháy. Anh ta bị hấp chín. Bằng hơi nước khoáng siêu nhiệt.”
Để chứng minh, tôi dùng ngón tay cái và ngón trỏ cố định vùng cổ nạn nhân, xác định vị trí sụn giáp. Lưỡi dao mổ lướt đi một đường dứt khoát trên vùng da cổ. Không có máu tuôn ra, vì tuần hoàn đã ngừng và các mạch máu bề mặt đã bị nhiệt độ cao làm đông đặc.
Tôi dùng banh bóc tách lớp cơ, bộc lộ khí quản. Cắt một lỗ nhỏ trên sụn khí quản, tôi đưa que tăm bông dài vào sâu bên trong, quệt một vòng rồi rút ra. Đầu bông trắng tinh không hề dính một hạt bụi than nào, nhưng lại ướt sũng một thứ dịch nhầy màu hồng nhạt, mang theo bọt khí li ti.
“Vết bỏng ngưng tụ trên niêm mạc phế quản.”
Tôi đưa que bông cho Kiều Dịch Hành xem.
“Hơi nước siêu nhiệt ở áp suất cao đã tràn vào đường thở khi anh ta hít vào. Nước bốc hơi mang theo nhiệt lượng khổng lồ luộc chín phổi từ bên trong. Cái chết đến trong vòng chưa đầy ba phút do sốc nhiệt và suy hô hấp cấp tính. Kẻ nào đó đã biến cái lò vòm này thành một chiếc nồi áp suất khổng lồ.”
Kiều Dịch Hành đứng thẳng dậy, ánh mắt quét một vòng quanh bức tường gạch kín mít.
“Nhưng bằng cách nào? Cửa lò bị bịt kín bằng gạch và xi măng từ ba mươi năm trước. Không có đường ống dẫn khí lộ thiên. Không có khe hở. Hơi nước siêu nhiệt ở đâu chui ra? Và Châu Văn vào đây bằng cách nào?”
Đó là câu hỏi của một kỹ sư kết cấu. Logic, thực dụng, đòi hỏi bằng chứng vật lý rõ ràng.
Tôi không vội trả lời, ánh mắt chuyển từ khí quản nạn nhân xuống bàn tay đang giơ lên vô vọng của anh ta. Mười ngón tay xòe ra. Tại sao lại là tư thế này? Phản xạ tự nhiên của con người khi đối mặt với nhiệt độ cao là co rúm lại, cuộn tròn người để bảo vệ các cơ quan trọng yếu. Nhưng Châu Văn lại vươn tay ra, ấn mạnh về phía trước.
Anh ta đang chống lại cái gì?
Tôi dịch chuyển nguồn sáng đèn pin, rọi dọc theo hướng ngón tay cái bên phải của nạn nhân. Ngón tay cái hơi gập xuống, phần móng tay cắm phập vào lớp đất sét ẩm ướt trát trên bức tường lò. Lực ấn mạnh đến mức phần thịt đầu ngón tay bị ép bẹp, để lại một dấu vân tay in sâu vào bùn đất.
Dấu vân tay không hướng lên trên, cũng không hướng ra ngoài. Nó chỉ thẳng xuống một viên gạch chịu lửa nằm sát mặt đất, ngay góc chết của vòm lò.
“Anh ta không kêu cứu.”
Tôi lẩm bẩm, tháo đôi găng tay dính dịch nhầy vứt vào túi rác sinh học, thay một đôi mới.
“Người sống có thể nói dối bằng lời, nhưng người chết luôn nói sự thật bằng cơ thể của họ. Châu Văn đang chỉ đường cho chúng ta.”
Tôi trườn người tới, quỳ sát mặt đất trước viên gạch mà ngón tay nạn nhân chỉ vào. Viên gạch này thoạt nhìn không có gì khác biệt so với hàng nghìn viên gạch xung quanh. Nhưng dưới ánh đèn viền LED của kính lúp, tôi nhận ra lớp vữa xi măng viền quanh nó có màu xám nhạt hơn một tông so với phần còn lại. Độ ẩm của lớp vữa cũng cao hơn.
Tôi rút chiếc xà beng nhỏ gọn cỡ hai mươi xen ti mét từ đáy thùng đồ nghề, chèn đầu dẹt vào khe hở giữa hai viên gạch, dùng sức bẩy mạnh.
Tiếng kim loại nghiến vào gạch nung vang lên chói tai. Lớp vữa vỡ vụn, viên gạch lỏng lẻo trượt ra ngoài, kéo theo một làn bụi mờ.
Phía sau viên gạch không phải là đất đá đặc ruột. Đó là một hốc rỗng.
Kiều Dịch Hành lập tức rọi đèn pin vào hốc tường. Tròng mắt anh co rút lại. Nằm sâu bên trong hốc tối là một đoạn ống đồng đường kính cỡ mười lăm xen ti mét. Bề mặt ống đồng đã bị ăn mòn, phủ một lớp oxit màu xanh lục đặc trưng. Nhưng điều đáng sợ là, trên bề mặt lớp oxit xanh ấy, còn đọng lại vô số hạt nước ngưng tụ li ti.
Tôi vươn tay, cẩn thận chạm đầu ngón tay có bọc găng cao su vào bề mặt ống đồng.
Nó vẫn còn ấm.
“Đường ống dẫn hơi nước ngầm bí mật.”
Tôi rụt tay lại, ngước nhìn Kiều Dịch Hành.
“Ống đồng này nối thẳng xuống lòng đất. Kẻ thủ ác không cần mang theo thiết bị đun nóng cồng kềnh. Hắn chỉ cần mở van từ một nơi nào đó dưới kia, và hệ thống ống ngầm này sẽ bơm hơi nước siêu nhiệt vào buồng lò, biến nó thành phòng hành hình.”
Kiều Dịch Hành cau mày, gõ nhẹ đốt ngón tay lên vách vòm lò.
“Nhà máy này xây dựng từ đầu thế kỷ hai mươi. Công nghệ thời đó làm sao có thể xây dựng một hệ thống ống ngầm chịu áp suất cao như vậy mà không rò rỉ?”
“Bởi vì họ không cần phải xây hệ thống tạo nhiệt.”
Một giọng nói trầm ấm, điềm đạm vang lên từ phía cửa lò.
Tôi và Kiều Dịch Hành đồng loạt quay lại. Một người đàn ông trung niên mặc áo sơ mi kẻ sọc, khoác chiếc gile nhiều túi đặc trưng của dân địa chất đang khom người chui qua lỗ thủng bước vào. Ông ta khoảng ngoài bốn mươi tuổi, dáng người gầy gò nhưng rắn rỏi. Gương mặt vuông vức, cặp kính gọng sừng trễ xuống sống mũi, toát lên vẻ uyên bác của một học giả hơn là người làm việc tại công trường.
Cùng bước vào với ông ta là một gã mập mạp, mặc áo phản quang có in dòng chữ “Chủ nhiệm an toàn lao động”. Trán gã lấm tấm mồ hôi, thứ mồ hôi lạnh toát không hề ăn nhập với cái nóng hầm hập của công trường. Cái cách gã liên tục đẩy gọng kính giống hệt một cỗ máy đếm nhịp bị lỗi.
“Tôi là Phùng Thiệu Niên, kỹ sư địa chất được tập đoàn Giang thị thuê để khảo sát nền đất trước khi phá dỡ.”
Người đàn ông gầy gò lên tiếng, đưa tay đẩy gọng kính sừng. Ánh mắt ông ta quét qua thi thể Châu Văn, dừng lại ở đoạn ống đồng lộ ra trong hốc tường. Một tia kinh ngạc lướt qua đáy mắt, rất nhanh, nhưng đủ để tôi bắt được. Sự điềm đạm của Phùng kỹ sư hoàn hảo đến mức khiến tôi có cảm giác ông ta đã tập luyện nét mặt này trước gương suốt một thập kỷ.
“Còn đây là Tôn Khải Văn, chủ nhiệm an toàn lao động của dự án.”
Phùng Thiệu Niên hất cằm về phía gã mập. Gã Tôn vội vã gật đầu chào chúng tôi, nụ cười méo xệch như bị ép buộc.
“Ý ông ban nãy là sao? Cái gì gọi là không cần xây hệ thống tạo nhiệt?”
Kiều Dịch Hành khoanh tay trước ngực, giọng nói mang theo uy áp của người làm nhiệm vụ thẩm vấn.
Phùng Thiệu Niên bước tới thêm hai bước, duy trì khoảng cách lịch sự với thi thể. Ông ta chỉ tay xuống lớp đất sét dưới chân.
“Bác sĩ Lục, đội trưởng Kiều, hai người có biết tại sao các thợ gốm đời đầu lại chọn chân núi Thanh Vân để dựng nên chín cái lò nung Long Ký Diêu này không? Không phải vì phong thủy, cũng chẳng phải vì nguồn đất sét. Mà là vì đứt gãy địa nhiệt.”
Phùng Thiệu Niên lấy từ túi ngực ra một cuốn sổ tay bìa da, lật mở một trang phác thảo địa hình.
“Bên dưới khu vực nhà máy này tồn tại một mạch nước ngầm chảy qua tầng magma nguội lạnh. Nước bốc hơi, tạo thành hệ thống kênh dẫn hơi nước địa nhiệt tự nhiên. Trăm năm trước, những nghệ nhân gốm thông minh đã phát hiện ra điều này. Họ chôn các ống đồng khổng lồ, dẫn hơi nước từ mạch địa nhiệt lên để sấy khô phôi gốm trước khi nung, tiết kiệm được lượng lớn củi lửa. Dân gian truyền miệng rằng ban đêm nghe tiếng lò thở dài, thực chất chính là tiếng hơi nước lưu thông trong mạng lưới ống ngầm này.”
Ông ta gập cuốn sổ lại, nhìn chằm chằm vào ống đồng hoen gỉ.
“Nhưng tôi không ngờ… hệ thống này vẫn còn hoạt động sau ngần ấy năm.”
“Rất thú vị.”
Tôi đứng thẳng dậy, cởi đôi găng tay vứt vào thùng.
“Một bài giảng địa chất xuất sắc, Phùng kỹ sư. Lịch sử luôn chứa đựng những bí ẩn tuyệt vời. Nhưng lịch sử không tự nhiên nhốt một công nhân phá dỡ vào trong lò kín và luộc chín anh ta.”
Tôi quay sang Tôn Khải Văn, lúc này đang lấy khăn mùi xoa lau mồ hôi trên trán không ngừng.
“Tôn chủ nhiệm, anh là người quản lý an toàn. Công trường phá dỡ quy mô lớn thế này chắc chắn phải có hệ thống kiểm soát ra vào nghiêm ngặt. Anh giải thích thế nào về sự xuất hiện của Châu Văn ở đây?”
Tôn Khải Văn giật thót người, luống cuống rút từ túi quần ra một chiếc máy tính bảng bọc ốp cao su chống sốc. Ngón tay gã run rẩy lướt trên màn hình.
“Báo cáo… báo cáo đồng chí cảnh sát. Chúng tôi dùng hệ thống thẻ từ định danh cho mọi nhân sự. Dữ liệu ghi nhận Châu Văn quẹt thẻ vào khu vực lò số ba lúc mười bốn giờ chiều nay để thu dọn phế liệu vòng ngoài. Nhưng… nhưng không có bản ghi xuất ra.”
“Mười bốn giờ?”
Kiều Dịch Hành chen ngang, giọng đanh lại.
“Lò số ba bị niêm phong kín bưng cho đến tận ba giờ rưỡi chiều khi máy xúc đập vỡ tường gạch. Nếu Châu Văn vào khu vực này lúc mười bốn giờ, làm sao cậu ta chui vào được bên trong lò?”
Tôn Khải Văn nuốt nước bọt cái ực, sắc mặt từ tái nhợt chuyển sang trắng bệch.
“Tôi… tôi không biết! Thề có trời đất, quy trình an toàn của chúng tôi rất chặt chẽ. Trừ khi… trừ khi lời đồn là thật. Oan hồn bảy người chết năm một chín chín tư đã mở cửa Âm ty kéo thằng bé vào!”
Tôi bực dọc gập mạnh nắp thùng đồ nghề bằng nhôm. Âm thanh kim loại va chạm vang dội trong không gian mái vòm, cắt đứt tiếng rên rỉ mê tín của Tôn Khải Văn. Khóe môi tôi nhếch lên, nụ cười lúc này đã mang theo sự châm biếm sắc lẹm.
“Oan hồn mở cửa Âm ty sao? Tôn chủ nhiệm, nếu oan hồn có thể thao túng hệ thống thẻ từ mã hóa hai năm sáu bít của các anh, thì tôi khuyên tập đoàn Giang thị nên thuê pháp sư làm giám đốc công nghệ thông tin thay vì thuê kỹ sư.”
Tôi bước tới gần Tôn Khải Văn, quan sát con ngươi đang giãn nở vì căng thẳng của gã.
“Anh nói Châu Văn quẹt thẻ vào lúc mười bốn giờ. Đội phá dỡ đập tường lúc mười lăm giờ ba mươi phút. Nhiệt độ cơ thể nạn nhân và mức độ hoại tử mô chỉ ra thời gian tử vong rơi vào khoảng mười bốn giờ ba mươi phút. Nghĩa là, Châu Văn có ba mươi phút để đi từ cổng kiểm soát vào tận sâu bên trong lò nung này, trước khi bị luộc chín.”
Tôi quay người, chỉ tay vào bức tường gạch phía sau thi thể Châu Văn.
“Cửa chính bị niêm phong bằng gạch và xi măng. Nhưng một cái lò nung khổng lồ thế này, thiết kế theo kiểu vòm cung khí động học, bắt buộc phải có một cửa thông gió phụ phía sau để thoát nhiệt khi mẻ gốm hoàn thành. Một lỗ hổng đủ lớn cho một người chui lọt.”
Kiều Dịch Hành hiểu ngay ý tôi. Anh rút đèn pin chiến thuật, bước nhanh vòng ra phía sau thi thể, rọi sáng phần gạch nung dưới chân vách tường. Quả nhiên, một mảng gạch ở góc khuất đã bị tháo dỡ rồi xếp lại vô cùng khéo léo, khe hở được trát bằng bùn đất ướt thay vì xi măng, ngụy trang hoàn hảo dưới ánh sáng mờ ảo của công trường.
“Tìm thấy rồi.”
Kiều Dịch Hành nói vọng lại.
“Kẻ nào đó đã dỡ cửa thông gió phụ này ra, lùa Châu Văn vào trong, sau đó xếp gạch bịt lại từ bên ngoài. Bùn vẫn còn ẩm.”
Tôi quay lại nhìn Phùng Thiệu Niên và Tôn Khải Văn. Lần này, sự tĩnh lặng của vị kỹ sư địa chất dường như có một vết nứt vô hình. Ông ta hơi nheo mắt lại, ngón tay cái vô thức miết nhẹ lên gáy cuốn sổ tay bìa da. Một cử chỉ nhỏ bé, nhưng trong mắt một bác sĩ pháp y quen đọc ngôn ngữ cơ thể, nó ồn ào chẳng khác nào tiếng còi báo động.
“Không ai nhốt anh ta bằng ma thuật cả.”
Tôi tuyên bố, giọng lạnh lẽo vang vọng giữa những bức tường gạch.
“Ai đó đã cố tình lừa Châu Văn chui qua lỗ thông gió để nhặt phế liệu hoặc kiểm tra thứ gì đó. Sau khi anh ta vào trong, hung thủ bít lỗ thông gió lại. Và rồi, hắn chỉ việc chờ đợi. Hoặc chờ đợi một chu kỳ phun trào tự nhiên của địa nhiệt, hoặc tự tay mở một cái van ngầm nào đó để biến cả cái lò này thành một cái nồi hầm.”
Tôi bước tới trước mặt Phùng Thiệu Niên, đưa tay ra.
“Phùng kỹ sư, để phục vụ điều tra, tôi cần xem bản đồ khảo sát địa chất toàn bộ khu vực nhà máy này. Sơ đồ chi tiết của hệ thống ống ngầm mà ông vừa nhắc tới.”
Phùng Thiệu Niên chớp mắt. Sự điềm tĩnh nhanh chóng bao phủ trở lại. Ông ta mỉm cười lịch sự, rút từ trong túi áo gile ra một cuộn giấy da công nghiệp được bảo quản cẩn thận, đưa bằng hai tay cho tôi.
“Tất nhiên rồi, thưa bác sĩ Lục. Mọi tài liệu tôi thu thập được đều nằm ở đây. Tôi luôn sẵn sàng hợp tác với cơ quan điều tra.”
