Theo dõi phở để rùng mình trong đêm. Văn án: Bia mộ không biết khóc. Nhưng nếu cả nghĩa trang đều rơi lệ giữa mùa khô — thì đó không phải nước mắt của người chết, mà là tiếng kêu cứu mà mười lăm năm chẳng ai buồn nghe. Tôi tên Hạ Ngôn Trừng. Tôi nghe được lời người chết. Nhưng lần này, điều khiến tôi sợ hãi nhất lại là lời của người sống.
Mười một giờ đêm. Thành phố Nam Kinh vẫn chìm trong ánh đèn nê ông rực rỡ, nhưng trong căn hộ thuê chật hẹp của tôi, nguồn sáng duy nhất phát ra từ màn hình điện thoại đang gắn trên giá đỡ.
Tôi hớp một ngụm trà đặc, đưa tay chỉnh lại cổ áo sơ mi, ánh mắt lướt qua hàng loạt bình luận đang trôi tuột trên màn hình phát sóng trực tiếp. Đám đông trên mạng luôn có một sự tò mò vô tận đối với những thứ mà họ không thể hiểu, và tôi, Hạ Ngôn Trừng, chính là người bán cho họ cái cảm giác thỏa mãn sự tò mò đó. Đương nhiên, không phải bán miễn phí.
Tôi gõ nhẹ ngón tay lên bàn, cất giọng khô khan:
“Tài khoản ‘Mèo Lười Yêu Đời’, câu hỏi của anh là: Dạo này đêm ngủ hay mộng tinh, sáng dậy đau lưng, có phải bị nữ quỷ hút dương khí không? Trả lời: Không phải. Anh nhìn lại cung điền trạch trên mặt mình đi, thâm quầng như nhọ nồi, bọng mắt chảy xệ, ấn đường nhăn nhúm. Đây không phải nữ quỷ trêu ghẹo, đây là hậu quả của việc thức khuya xem phim đen sáu đêm liền. Đề nghị anh uống nhiều nước lọc, ra ngoài hít thở khí trời, bớt ảo tưởng lại. Mười chín tệ, thanh toán qua mã quét góc trái màn hình. Người tiếp theo.”
Một loạt bình luận châm chọc hiện lên. Tôi mặc kệ. Nghề tư vấn phong thủy, giải mã tâm linh trên mạng này, mười người hỏi thì chín người tự dọa bản thân. Kẻ duy nhất thực sự gặp ma, thường không còn mạng để lên mạng đặt câu hỏi.
Ông ngoại tôi, Hạ Phụng Thanh, từng là người gác nghĩa trang suốt bốn chục năm. Ông bị mù từ thuở trung niên, nhưng lại có khả năng nghe được những lời thì thầm của người đã khuất qua những rung động truyền từ bia đá. Trước khi qua đời vào ba năm trước, ông để lại cho tôi một món nợ tiền thuê nhà khổng lồ và một chiếc bông tai ngọc tủy. Chiếc bông tai hiện đang nằm ngoan ngoãn trên tai trái của tôi, lạnh toát. Nó là vật gia truyền, có khả năng khuếch đại năng lực “Mộ Ngữ” — thứ năng lực di truyền oái oăm khiến tôi chỉ cần chạm tay vào bia mộ là có thể nghe được lời trăng trối của cái xác nằm bên dưới.
Nhưng ông ngoại dặn tôi một câu thế này:
“Con nghe cho người chết, nhưng nhớ kỹ, đừng bao giờ tin lời kẻ còn sống mà không tự mình kiểm chứng.”
Tôi từng nghĩ câu nói đó mang triết lý nhân sinh sâu sắc lắm, cho đến khi tôi nhận ra, nó chỉ đơn giản là lời cảnh báo về việc khách hàng rất hay quỵt tiền.
Điện thoại của tôi bất chợt rung lên bần bật, cắt ngang dòng suy nghĩ. Một cuộc gọi đến. Tên hiển thị trên màn hình: Tô Diễm Khanh.
Tôi khẽ chau mày. Diễm Khanh là bạn học thời đại học của tôi, hiện đang làm phóng viên điều tra cho một tòa soạn lớn. Cô ấy nổi tiếng là kẻ cuồng công việc, lý trí đến mức cực đoan, theo chủ nghĩa duy vật tuyệt đối. Trong mắt Diễm Khanh, ma quỷ chỉ là sản phẩm của ảo giác, hoặc là công cụ để kẻ ác che giấu tội lỗi. Việc cô ấy gọi cho tôi vào lúc mười một giờ rưỡi đêm thế này, chắc chắn không phải rủ đi ăn khuya.
Tôi giơ tay bấm nút nhận cuộc gọi, nhưng chưa kịp mở miệng, đầu dây bên kia đã vang lên giọng điệu dồn dập, sắc lẹm:
“Ngôn Trừng, tao đang ở làng Thanh Hà. Mày mang ngay đồ nghề đến đây cho tao. Chuyện kỳ quái lắm, tao không giải thích qua điện thoại được.”
Tôi tựa lưng vào ghế, thổi nhẹ chén trà, đáp lại bằng tông giọng đều đặn không đổi:
“Khanh tỷ, tao đang phát sóng trực tiếp kiếm tiền đóng tiền nhà. Mỗi quẻ mười chín tệ, nãy giờ tao mới chốt được ba đơn. Mày gọi tao đi lúc nửa đêm, tiền xe ai chịu? Công tác phí tính thế nào?”
Đầu dây bên kia im lặng mất hai giây, dường như Diễm Khanh đang cố đè nén cơn bực dọc.
“Tao đang viết bài điều tra về vụ ô nhiễm nguồn nước do nhà máy hóa chất của tập đoàn Ngụy Thị gây ra. Nhưng vấn đề là, tao vừa bước vào nghĩa trang của làng này để chụp ảnh thực địa, và tao thề với mày, tao thấy mấy cái bia đá đang rỉ nước. Nước chảy ra từ chữ khắc. Tao trả mày năm trăm tệ phí di chuyển, cộng thêm hai nghìn tệ phí tư vấn tại chỗ. Đến ngay!”
Nghe đến con số hai nghìn năm trăm tệ, tôi lập tức đưa tay tắt ngang luồng phát sóng trực tiếp, không thèm chào tạm biệt đám khán giả đang ngơ ngác.
“Gửi định vị đi. Hai tiếng nữa tao có mặt.”
Tôi ném điện thoại sang một bên, kéo chiếc ba lô cũ kỹ từ gầm giường ra. Bên trong là những thứ tôi dùng để kiếm cơm: la bàn bằng đồng thau, một hộp chu sa đỏ chót, một xấp giấy vàng cắt sẵn, và vài thanh nhang trầm. Tôi không dùng kiếm gỗ đào hay bùa chú lòe loẹt như mấy ông thầy pháp trên phim. Năng lực của tôi không thiên về chiến đấu vật lý. Nếu gặp quỷ dữ, tôi thà dùng bẫy trận để nhốt chúng lại rồi bỏ chạy, còn hơn là đứng lại múa kiếm. Sức khỏe tôi không tốt, chạy bộ năm trăm mét đã thở dốc, đánh đấm thế nào được.
Trước khi xách ba lô ra khỏi cửa, tôi mở ứng dụng nhắn tin, tìm đến một số liên lạc được lưu dưới cái tên “Cục Quản Lý Dị Sự – Hàn Ý Thành”.
Hàn Ý Thành là chuyên viên liên lạc của Cục Quản Lý Dị Sự, một tổ chức ngầm của chính phủ chuyên xử lý những hiện tượng vượt ngoài tầm hiểu biết của khoa học hiện đại. Tôi thỉnh thoảng hợp tác với họ dưới danh nghĩa cố vấn tự do, chủ yếu vì họ trả tiền sòng phẳng, dù thủ tục giấy tờ hơi rườm rà.
Tôi gõ nhanh vài dòng:
“Hàn chuyên viên, tôi có việc đột xuất phải đến làng Thanh Hà. Nghi ngờ có dị tượng cấp độ thấp. Báo cáo này được tính là ca làm ngoài giờ. Công tác phí phải nhân đôi nhé. Bắt buộc thanh toán ứng trước phân nửa.”
Tin nhắn vừa gửi đi vỏn vẹn mười giây, màn hình đã sáng lên. Hàn Ý Thành trả lời nhanh như thể anh ta không bao giờ ngủ, nội dung luôn ngắn gọn đến mức khô khan:
“Đã nhận thông tin. Yêu cầu Hạ cố vấn giữ an toàn. Không tự ý can thiệp nếu mức độ nguy hiểm vượt quá khả năng kiểm soát. Tiền ứng trước đã chuyển. Nhớ nộp báo cáo bằng văn bản sau khi kết thúc.”
Tôi nhìn thông báo tiền vào tài khoản, khóe môi khẽ nhếch lên. Làm việc với Hàn Ý Thành có một điểm tốt: anh ta không bao giờ vòng vo. Không hỏi han thừa thãi, chỉ nói chuyện công việc và tiền bạc. Rất hợp ý tôi.
Tôi khóa cửa, lên chiếc xe hơi cũ kỹ mua lại từ bãi phế liệu, đạp ga hướng về phía ngoại ô. Làng Thanh Hà cách trung tâm thành phố khoảng một trăm hai mươi ki lô mét. Chuyến đi kéo dài hai giờ đồng hồ, xuyên qua những đoạn đường quốc lộ vắng ngắt, không một bóng đèn đường.
Khi chiếc xe rẽ vào con đường đất dẫn vào làng, đập vào mắt tôi đầu tiên không phải là những ngôi nhà cấp bốn lụp xụp, mà là một khối kiến trúc khổng lồ xám xịt nằm sừng sững bên bờ sông. Đó là nhà máy hóa chất của Ngụy Đình Phong. Ba ống khói khổng lồ đang nhả ra những cột khói trắng đục, hòa vào bầu không khí oi bức của đêm hè.
Thời tiết lúc này đang là đỉnh điểm của mùa khô. Đã ba tuần nay không có lấy một giọt mưa. Nhiệt độ ban ngày lên tới ba mươi tám độ xê, ban đêm cũng không giảm xuống dưới ba mươi độ. Đất đai hai bên đường nứt toác, những rãnh nứt sâu hoắm như những cái miệng khát nước đang há rộng.
Tôi đỗ xe dưới gốc cây đa cổ thụ ở đầu làng. Tô Diễm Khanh đã đứng đợi sẵn ở đó. Cô ấy mặc áo sơ mi kẻ sọc, quần bò bạc màu, mái tóc cắt ngắn ngang vai rũ rượi mồ hôi. Trông Diễm Khanh tã tượi hơn hẳn so với hình ảnh nữ phóng viên sắc sảo thường ngày trên bản tin truyền hình.
Vừa thấy tôi bước xuống xe, Diễm Khanh lập tức ném cho tôi một chai nước suối lạnh, giọng điệu gấp gáp:
“Mày đến rồi. Đi theo tao. Bọn dân làng đang ngủ say, nhưng tao không chắc lúc nào họ tỉnh dậy. Bọn họ bài xích người ngoài lắm.”
Tôi vặn nắp chai nước, tu một ngụm lớn, hỏi:
“Mày nói bia mộ rỉ nước? Giữa cái thời tiết khô như ngói thế này sao? Chắc không phải hệ thống ống nước ngầm bị vỡ đấy chứ?”
Diễm Khanh trừng mắt nhìn tôi, bước chân thoăn thoắt dẫn đường về phía gò đất cao phía sau làng.
“Ống nước ngầm cái đầu mày. Nghĩa trang nằm trên đồi, cách xa dòng sông nửa cây số, xung quanh toàn là đất đá khô cằn. Tao đã kiểm tra kỹ rồi, không hề có dấu vết rò rỉ nước từ bên ngoài. Nước chảy ra từ chính bên trong những phiến đá. Hơn một trăm cái bia mộ, không chừa một cái nào.”
Tôi khựng lại một nhịp. Hơn một trăm cái bia mộ cùng rỉ nước? Điều này vượt qua khỏi khái niệm về một sự cố phong thủy thông thường. Trong thuật âm trạch, mộ phần bị ngập nước là đại kỵ, gọi là “mộ thủy ứ đọng”, sẽ khiến con cháu đời sau làm ăn lụi bại, bệnh tật triền miên. Nhưng đó là nước từ bên ngoài thấm vào. Còn việc bia đá tự thân chảy nước, lại là hiện tượng đồng loạt, thì chỉ có một lời giải thích duy nhất trong giới huyền môn: Oán khí kết tủa thành hình.
Chúng tôi bước qua một cánh cổng tò vò xập xệ, tiến vào khu vực nghĩa trang.
Giây phút tôi bước qua bậc cửa bằng đá, một sự thay đổi nhiệt độ đột ngột ập đến khiến tôi rùng mình. Bên ngoài là cái nóng bức bối ba mươi độ, nhưng không khí bên trong nghĩa trang lại lạnh toát, ẩm ướt và nhớp nháp đến nghẹt thở. Cảm giác giống hệt như đang bước vào một căn hầm ướp lạnh thịt bị hỏng hệ thống thông gió. Mùi bùn sông tanh nồng, xộc thẳng vào mũi, pha lẫn với mùi hôi thối của rêu mốc.
Tôi bật đèn pin điện thoại, quét ánh sáng qua những dãy mộ xếp san sát nhau.
Cảnh tượng trước mắt khiến tôi, một kẻ đã quen nhìn xác chết, cũng phải nín thở. Dưới ánh sáng trắng lóa, hơn một trăm tấm bia đá cẩm thạch đang ướt sũng. Những giọt nước đục ngầu, mang theo chút cặn bùn li ti, rịn ra từ những nét khắc tên tuổi người đã khuất, rồi tụ lại, chảy tuôn xuống mặt đất. Nước chảy không nhanh, nhưng liên tục, rả rích, tạo thành những vũng lầy lép nhép dưới chân chúng tôi.
Nó giống hệt như việc những tấm bia đá đang khóc.
“Mày thấy chưa?”
Diễm Khanh hạ giọng thì thầm, ánh mắt lộ vẻ bất an hiếm thấy. “Tao đến đây để điều tra việc nhà máy của Ngụy Đình Phong xả thải lén lút ra sông Thanh Hà, làm chết hoa màu của dân. Tao định chụp ảnh đất nghĩa trang để lấy mẫu xét nghiệm, chứng minh hóa chất đã ngấm vào mạch nước ngầm. Nhưng tao thề, thứ nước chảy ra từ mấy cái bia này… nó không bình thường.”
Tôi không đáp lời Diễm Khanh. Ánh mắt tôi dán chặt vào một vũng nước đọng dưới chân tấm bia đá gần nhất. Tôi quỳ một chân xuống, đưa ngón trỏ quệt một ít nước, đưa lên mũi ngửi. Mùi bùn thối rữa, lẫn lộn với mùi rỉ sét kim loại đặc trưng của hóa chất công nghiệp.
Đột nhiên, một tiếng ho húng hắng vang lên từ phía sau lưng chúng tôi, phá vỡ sự im lặng chết chóc của nghĩa trang.
Diễm Khanh giật thót mình, vội vã lùi lại. Tôi bình tĩnh đứng dậy, chiếu đèn pin về phía âm thanh phát ra.
Từ trong bóng tối của khu mộ gia tộc họ Lý, một bóng người gầy gò, lưng còng gập xuống, chậm chạp bước ra. Đó là một ông lão, chắc cũng ngoài bảy mươi. Làn da nhăn nheo như vỏ cây khô, đôi mắt trũng sâu hoắm, đỏ ngầu những tia máu. Mặc dù thời tiết nóng nực, ông ta vẫn khoác một chiếc áo bông cũ kỹ, hai tay giấu trong tay áo, dáng đi run rẩy.
“Hai cô gái… đêm hôm khuya khoắt, đến quấy rầy giấc ngủ của người chết làm gì?”
Giọng ông lão khàn đặc, nghẹn ngào như có đờm vướng trong cổ họng.
Diễm Khanh thở phào, tiến lên một bước, hạ giọng giới thiệu:
“Lý lão, ông chưa ngủ sao? Đây là bạn cháu, Hạ Ngôn Trừng. Cô ấy là chuyên gia phong thủy từ thành phố xuống. Cháu mời cô ấy đến xem giúp hiện tượng kỳ lạ ở nghĩa trang làng mình.”
Người đàn ông này chính là Lý Trường Sinh, trưởng làng Thanh Hà.
Tôi thu lại ánh đèn pin, tránh chiếu thẳng vào mặt ông ta, nhưng đôi mắt tôi vẫn không ngừng quan sát. Nghề của tôi đòi hỏi sự nhạy bén về nhân tướng học. Khuôn mặt của Lý Trường Sinh mang đậm dấu ấn của sự mất mát. Cung tử tức dưới mắt lõm sâu, tối tăm, chứng tỏ ông ta đã mất con cái từ lâu. Nhân trung có một nếp gấp ngang rất sâu, biểu hiện của nội tâm uất kết, dồn nén hận thù suốt nhiều năm tháng.
Nhưng điều khiến tôi chú ý nhất, là thái độ của ông ta. Khác với sự hoảng loạn thông thường của những kẻ chứng kiến hiện tượng siêu nhiên, Lý Trường Sinh tỏ ra quá bình tĩnh. Sự sợ hãi trong đôi mắt đỏ ngầu kia là có thật, nhưng nó không phải là nỗi sợ hãi dành cho bản thân mình.
Lý Trường Sinh ho sù sụ thêm vài tiếng, rồi đưa ngón tay run rẩy chỉ về phía những tấm bia đá đang rỉ nước.
“Không cần xem phong thủy đâu, cô Hạ. Đây không phải lỗi phong thủy. Đây là báo ứng. Làng Thanh Hà chúng tôi… sắp chết hết rồi.”
Tôi nhướng mày, khoanh tay trước ngực, giọng điệu sắc bén:
“Trưởng làng Lý, ông đừng dọa người. Báo ứng cũng có quy luật của nó. Âm dương luân chuyển, oan có đầu nợ có chủ. Hơn một trăm ngôi mộ ở đây đều khóc, chẳng lẽ cả cái làng này đều gây thù chuốc oán với cùng một con quỷ? Ông kể rõ ngọn ngành ra xem nào. Nhớ nói sự thật, tôi tính phí tư vấn theo giờ đấy.”
Lý Trường Sinh cười khổ, nụ cười nhăn nhúm trên khuôn mặt già nua trông vô cùng thê lương. Ông ta chậm rãi bước đến một tảng đá phẳng gần đó, khó nhọc ngồi xuống, ánh mắt đờ đẫn nhìn vào khoảng không vô định.
“Bảy ngày trước… hiện tượng này bắt đầu xuất hiện. Ban đầu chỉ là vài giọt nước đọng trên bia đá, chúng tôi cứ tưởng do sương đêm. Nhưng đến ngày thứ ba, nước chảy thành dòng. Và rồi… bà Huệ chết.”
Tôi cau mày:
“Bà Huệ? Chết như thế nào?”
Lý Trường Sinh nuốt nước bọt, cổ họng phát ra tiếng ực khô khốc.
“Trần Thị Huệ, sáu mươi tám tuổi, sống ở cuối làng. Bà ấy là người đầu tiên phát hiện ra bia mộ nhà họ Trần rỉ nước. Sáng ngày thứ tư kể từ khi hiện tượng bắt đầu, con trai bà ấy mang cháo sang phòng, thì phát hiện bà ấy đã tắt thở trên giường.”
Diễm Khanh chen ngang, lật cuốn sổ tay nhỏ ra, giọng điệu đậm chất nghiệp vụ báo chí:
“Cháu đã xem bản sao báo cáo khám nghiệm tử thi do cảnh sát xã cung cấp. Nguyên nhân tử vong được xác định là ngạt nước. Phổi nạn nhân chứa đầy nước, tràn cả ra khí quản. Nhưng điểm vô lý nhất là: nạn nhân chết trên giường ngủ của mình. Căn phòng khóa trái từ bên trong. Quần áo trên người khô ráo hoàn toàn. Không có bất kỳ vết xước hay dấu hiệu xô xát nào. Duy nhất chỉ có khuôn mặt bà ấy… phủ một lớp bùn sông mỏng, ướt nhẹp. Chân của nạn nhân cũng dính đầy đất bùn, dù bà ấy bị liệt nửa người suốt hai năm nay, hoàn toàn không thể tự bước ra khỏi giường.”
Tôi cắn nhẹ môi dưới. Chết đuối trên cạn.
Trong giới huyền môn, hiện tượng này không hiếm, nhưng cực kỳ tàn độc. Nó xảy ra khi một linh hồn chết đuối mang oán khí quá lớn, không thể siêu thoát, liền tạo ra một ảo giác không gian. Nạn nhân dù đang nằm trên giường khô ráo, nhưng tâm trí và cơ thể vật lý lại bị kéo vào vùng ký ức lúc kẻ đó đang chìm dưới đáy sông. Nước tràn vào phổi nạn nhân không phải là nước vật lý, mà là “âm thủy” — thứ nước hình thành từ oán niệm.
Nhưng vấn đề nằm ở chỗ này. Khoảng cách từ nhà bà Huệ đến con sông Thanh Hà là gần một ki lô mét. Âm linh thông thường không thể rời xa nơi mình tử nạn quá xa, trừ khi có vật dẫn đường.
“Trưởng làng Lý,” tôi chĩa thẳng ánh nhìn sắc lạnh vào ông ta. “Người chết đuối không bao giờ giết người vô cớ. Nếu bà Huệ chết vì âm thủy, nghĩa là bà ấy có liên quan trực tiếp đến cái chết của kẻ đang báo thù. Mười lăm năm trước, ở làng này có ai chết đuối không?”
Câu hỏi của tôi vừa dứt, cơ thể Lý Trường Sinh run bắn lên. Đáy mắt ông ta xẹt qua một tia hoảng loạn tột độ, nhưng ngay lập tức bị che lấp bởi vẻ đờ đẫn thường ngày. Ông ta cúi gầm mặt, lắc đầu quầy quậy.
“Không… không có ai cả. Làng chúng tôi an phận thủ thường, sống bằng nghề nông, làm gì có chuyện ác nhân ác báo. Cô Hạ, cô làm ơn làm phép trấn yểm khu mộ này đi. Tiền bạc bao nhiêu làng chúng tôi cũng gom góp trả đủ.”
Tôi khẽ tặc lưỡi. Lại nói dối. Cái kiểu phản ứng lảng tránh này, tôi đã gặp cả trăm lần khi đi xem phong thủy cho mấy tay nhà giàu làm ăn bất chính. Bọn họ lúc nào cũng cầu xin thần phật phù hộ, nhưng lại giấu nhẹm những tội lỗi mình đã gây ra. Thật buồn cười.
“Trưởng làng, tôi không phải đạo sĩ bắt ma. Tôi chỉ là người nghe lời trăng trối. Ông không muốn nói thật cũng không sao. Để tôi tự hỏi người nằm dưới đất.”
Tôi quay gót, bước thẳng về phía tấm bia mộ đang rỉ nước nhiều nhất. Đó là bia mộ của ông nội bà Huệ. Diễm Khanh định chạy theo ngăn lại, nhưng tôi giơ tay ra hiệu cô ấy đứng yên.
Tôi hít một hơi thật sâu, gỡ chiếc găng tay da bên phải ra. Năng lực “Mộ Ngữ” của tôi đòi hỏi sự tiếp xúc trực tiếp giữa da thịt và vật dẫn. Khác với những ông thầy pháp có thể mở thiên nhãn nhìn thấy ma quỷ tung tăng bay lượn, tôi hoàn toàn mù tịt về mặt thị giác tâm linh. Tôi không thấy khí đen, không thấy bóng ma. Tôi chỉ NGHE được. Và cái giá phải trả cho việc nghe này là sự tiêu hao thể lực khủng khiếp, cùng với cảm giác lạnh buốt thấu xương mỗi khi kết nối với cõi âm.
Tôi đặt áp lòng bàn tay trần của mình lên bề mặt phiến đá cẩm thạch trơn tuột, ướt sũng.
Chiếc bông tai ngọc tủy trên tai trái tôi đột ngột nóng ran, tỏa ra một luồng nhiệt bỏng rát như than hồng. Lòng bàn tay tôi truyền đến một luồng khí lạnh buốt, chạy dọc theo cánh tay, lan thẳng lên não bộ.
Tôi nhắm mắt lại. Xung quanh tôi, tiếng gió thổi xào xạc, tiếng côn trùng kêu rỉ rả, tiếng thở dốc của Diễm Khanh — tất cả đều biến mất. Trái đất như ngừng quay. Không gian rơi vào một khoảng chân không tĩnh lặng tuyệt đối.
Và rồi, âm thanh bắt đầu vang lên trong tâm trí tôi.
Thường thì, khi tôi chạm vào bia mộ, tôi sẽ nghe thấy giọng nói của người chết nằm dưới đó. Có thể là tiếng rên rỉ đau đớn vì bệnh tật, tiếng dặn dò con cháu giấu sổ tiết kiệm ở đâu, hoặc những lời chửi rủa kẻ thù.
Nhưng lần này, âm thanh dội vào đầu tôi không phải là giọng của một ông già họ Trần.
Đó là giọng của một người phụ nữ trẻ. Rất trẻ. Giọng nói nghẹn ngào, đứt quãng, xen lẫn tiếng sặc nước ùng ục, như thể cô gái ấy đang bị dìm sâu dưới đáy sông tăm tối.
“…sông… nước lạnh quá… đẩy tôi… ông ta đẩy tôi… không phải tai nạn… cứu… họ biết… tất cả bọn họ đều biết… nhưng không ai nói…”
Tim tôi đập thót lên một nhịp. Âm thanh mang theo sự uất hận tột cùng, sắc nhọn như hàng ngàn mũi kim đâm thẳng vào màng nhĩ. Tôi vội vã rụt tay lại, lùi bước, thở dốc.
Lòng bàn tay tôi ướt sũng thứ nước bẩn thỉu, lạnh toát. Bông tai ngọc tủy vẫn còn nóng hổi, để lại một vệt ửng đỏ trên vành tai.
“Mày sao vậy Trừng? Mặt mày tái mét kìa!”
Diễm Khanh hoảng hốt chạy đến, đỡ lấy cánh tay tôi.
Tôi lắc đầu, cố gắng điều hòa nhịp thở. Ánh mắt tôi lướt qua hàng trăm tấm bia mộ đang chìm trong bóng tối lờ mờ.
“Khanh tỷ… giọng nói tao vừa nghe… không phải của người nằm dưới mộ.”
Diễm Khanh nhíu mày khó hiểu:
“Ý mày là sao? Mày chạm vào mộ ông nội bà Huệ cơ mà?”
Tôi nắm chặt nắm tay, cảm nhận sự nhớp nháp bám trên da thịt, giọng tôi đanh lại:
“Đó là giọng của một cô gái trẻ chết đuối. Và tao cá với mày, nếu tao chạm vào bất kỳ tấm bia mộ nào khác trong cái nghĩa trang này, tao cũng sẽ nghe thấy cùng một giọng nói đó. Ai đó… hoặc thứ gì đó… đã dùng một loại tà thuật cực kỳ cao cấp, ký gửi lời trăng trối của cô gái này vào toàn bộ hệ thống bia mộ của làng Thanh Hà.”
Tôi quay sang nhìn Lý Trường Sinh. Ông lão đã lùi sâu vào trong bóng tối, cơ thể run lật bật, hai tay ôm lấy đầu, lẩm bẩm những từ vô nghĩa.
Đây không phải là một vụ án tâm linh thông thường. Đây không phải là một con quỷ lang thang tìm người thế mạng. Đây là một màn phát sóng trực tiếp lời nguyền quy mô lớn.
Lời trăng trối nói rõ:
“Họ biết… tất cả bọn họ đều biết”.
Nghĩa là, mười lăm năm trước, có một cô gái đã bị sát hại dưới dòng sông Thanh Hà. Kẻ thủ ác đã đẩy cô xuống. Và toàn bộ hai trăm hộ dân trong cái làng này, bao gồm cả bà Huệ, bao gồm cả Lý Trường Sinh, đều biết sự thật. Nhưng vì một lý do nào đó, tất cả bọn họ đã chọn cách im lặng. Sự im lặng tập thể đã biến họ thành những kẻ đồng lõa.
Bây giờ, người chết quay về. Cô ta dùng chính những bia mộ của tổ tiên họ — thứ đại diện cho sự tôn nghiêm và bảo bọc của dòng họ — biến thành những chiếc loa phát thanh bằng đá, liên tục phát đi lời kêu cứu mà năm xưa không ai chịu nghe.
Tôi rút từ trong ba lô ra một xấp giấy vàng, nhanh chóng lấy hộp chu sa, dùng ngón tay quệt một đường đỏ chót lên tờ giấy, miệng lẩm nhẩm vài câu chú tịnh tâm. Tôi dán lá bùa lên trán mình để ép luồng hàn khí đang chạy rần rần trong mạch máu lắng xuống.
