Ăn Phở Nghe Truyện Tâm Linh. Văn án: Anh bảo tôi dẫn đường vào hí viện cổ, dọa rằng bước sai một bước tôi sẽ chết trước. Nhưng anh quên mất một điều — sân khấu này là của nhà tôi. Và ở đây, tôi mới là người quyết định ai được hạ màn.
Chiếc xe địa hình màu đen đắt tiền gầm gừ nhọc nhằn bò lên con đường đất đỏ lởm chởm đá hộc. Xung quanh chúng tôi là những rặng trúc xanh rì, cao vút, đan vào nhau thành một mái vòm che khuất cả ánh sáng mặt trời. Càng đi sâu vào dãy núi hoang vu thuộc vùng biên giới Tây Nam, không khí càng trở nên đặc quánh, mang theo mùi ẩm mốc của lá mục và mùi ngai ngái của đất sét sau cơn mưa đêm qua.
Đường Dự Hành ngồi ở ghế lái, hai bàn tay siết chặt vô lăng đến mức các khớp xương trắng bệch. Gương mặt đẹp trai, luôn toát lên vẻ thư sinh ấm áp thường ngày của anh lúc này lại căng cứng, đôi lông mày nhíu chặt để lộ ra một sự nôn nóng khó che giấu. Tôi ngồi ở ghế phụ, hai tay ôm khư khư chiếc ba lô trước ngực, thỉnh thoảng lại khẽ rụt cổ lại mỗi khi bánh xe cán qua một ổ gà lớn khiến cả thân xe nảy lên bần bật.
Nhìn từ bên ngoài, tôi chắc hẳn giống hệt một nữ sinh viên đại học ngây thơ, nhút nhát, bị bạn trai lôi kéo vào một chuyến đi thực tế đầy mệt mỏi. Nhưng sự thật là, nhịp tim của tôi lúc này còn phẳng lặng hơn cả mặt hồ mùa thu. Tôi đang quan sát hắn. Quan sát kẻ đã đóng vai người yêu hoàn hảo của tôi suốt hai năm qua tại giảng đường đại học Bắc Kinh.
Sự dịu dàng của Đường Dự Hành giống như lớp mạ vàng trên một món đồ cổ rởm ở vỉa hè chợ đồ cổ Phan Gia Viên, chỉ cần cạo nhẹ là tróc ngay ra từng mảng. Hắn tiếp cận tôi vào đúng học kỳ đầu tiên của năm thứ hai. Khi đó, tôi chỉ là một cô gái tỉnh lẻ quê mùa, ăn mặc giản dị, không có gì nổi bật. Hắn mang danh là hội trưởng hội sinh viên, gia thế giàu có, tương lai xán lạn. Mọi người đều nói tôi trúng số độc đắc khi được hắn theo đuổi. Hắn tặng tôi hoa hồng, đưa tôi đi ăn tại những nhà hàng sang trọng, thậm chí còn hứa hẹn về một tương lai mua nhà ở Thượng Hải.
Chỉ tiếc là, hắn diễn quá đạt, còn tôi thì lại biết trước kịch bản.
“
Nguyệt, em nói xem chúng ta còn cách Thất Âm Trấn bao xa nữa?”
Đường Dự Hành cất giọng hỏi, cố ép ra một nụ cười an ủi, nhưng ánh mắt lại sắc lẹm liếc nhìn bản đồ giấy trên tay tôi. Ở khu vực này, cột sóng điện thoại đã biến mất từ ba mươi ki lô mét trước. Điện thoại thông minh giờ chỉ còn tác dụng làm cục chặn giấy.
Tôi chớp mắt, cố tạo ra vẻ mặt mệt mỏi xen lẫn hoang mang, nhỏ giọng đáp:
“
Chắc khoảng năm ki lô mét nữa thôi anh. Qua hết rừng trúc này, rẽ phải ở ngã ba có cây đa cổ thụ là tới. Nhưng mà Dự Hành à… em thấy hơi sợ. Quê ngoại em hẻo lánh lắm, lại không có tiện nghi gì. Hay là chúng ta quay về đi? Đề tài phim tài liệu của anh có thể chọn nơi khác mà.”
Từ băng ghế sau, một tiếng khịt mũi đầy khinh bỉ vang lên. Đó là Hà Tuấn Dương. Gã đàn ông ba mươi tuổi này có thân hình vạm vỡ như một con gấu, cơ bắp cuồn cuộn ẩn dưới lớp áo phông bó sát. Hắn được giới thiệu là người quay phim của đoàn, nhưng đôi bàn tay thô ráp, đầy vết chai sần ở những vị trí cầm dao và cạy khóa lại tố cáo một nghề nghiệp hoàn toàn khác. Hà Tuấn Dương vươn vai, gác chiếc ủng dính đầy bùn lên bệ tỳ tay giữa hai ghế trước, cười khẩy:
“
Cô em à, đã mất công đi đến tận đây rồi, sao lại quay về? Đạo diễn Đường của chúng ta đã bỏ ra bao nhiêu tâm huyết cho dự án này, cô là bạn gái thì phải ủng hộ chứ. Đừng có hơi tí là nhõng nhẽo. Chỗ càng hẻo lánh thì tài liệu thu thập được càng có giá trị, hiểu không hả?”
Ngồi cạnh Hà Tuấn Dương là Phùng Ngữ Yên. Chị ta tự xưng là biên kịch, hai mươi bảy tuổi, mang vẻ đẹp sắc sảo và lõi đời. Chị ta bôi thứ son môi màu đỏ chót, đôi mắt kẻ viền đen đậm, lúc nào cũng liếc nhìn tôi bằng ánh mắt đánh giá như thể một con buôn đang định giá món hàng. Phùng Ngữ Yên đưa tay giũa móng, giọng lanh lảnh vang lên đâm xuyên qua tiếng động cơ:
“
Đúng đấy em gái. Dự Hành nhà em vì muốn làm bộ phim tài liệu về kiến trúc hí viện cổ mà đã thức trắng mấy đêm liền. Em là người Thất Âm Trấn, em phải tự hào vì quê hương mình sắp được lên hình chứ. Chị nghe nói hí viện ở làng em có lịch sử hàng trăm năm, chắc chắn bên trong còn nhiều thứ hay ho lắm.”
Tôi cúi gằm mặt, hai tay vò vò gấu áo, diễn trọn vai một cô bạn gái bị bạn bè của người yêu ức hiếp mà không dám phản kháng. Đường Dự Hành đưa tay xoa đầu tôi, giọng nói trầm ấm vang lên:
“
Được rồi, hai người đừng trêu cô ấy nữa. Nguyệt nhát gan lắm. Em yên tâm, có anh ở đây, không ai bắt nạt được em đâu. Chúng ta chỉ vào đó khảo sát vài ngày, quay xong vài thước phim rồi sẽ về thẳng Bắc Kinh.”
Tôi ngước lên nhìn hắn, gật đầu ngoan ngoãn.
Nhưng sâu trong đáy mắt tôi, một tầng sương giá đang chậm rãi ngưng tụ. Anh nói đúng, Dự Hành. Chúng ta sẽ vào đó vài ngày. Nhưng ai có thể trở về Bắc Kinh, điều đó anh không có quyền quyết định.
Khoảng nửa giờ sau, khung cảnh trước mắt đột ngột mở rộng. Rừng trúc lùi lại phía sau, nhường chỗ cho một thung lũng lọt thỏm giữa bốn bề núi đá dựng đứng. Thất Âm Trấn hiện ra trong làn sương mù lãng đãng buổi chiều tà. Không có những tòa nhà cao tầng, không có đường nhựa. Nơi đây giống như một mảnh ghép bị bỏ quên của thế kỷ mười chín. Những mái nhà lợp ngói âm dương xô lệch màu xám tro, tường gạch trát bùn đã bong tróc lộ ra những vệt rêu xanh rì. Dọc con đường đất chính nối liền từ cổng làng vào trung tâm, lác đác vài bóng người.
Khi chiếc xe của chúng tôi chậm chạp lăn bánh qua cổng làng, sinh hoạt của người dân dường như khựng lại. Những người đàn ông đang vác củi, những người phụ nữ đang vo gạo bên lu vại, và cả những đứa trẻ đang chơi đùa bằng bi đất đều đồng loạt dừng tay. Họ quay đầu lại, dùng những đôi mắt u ám, đục ngầu nhìn chằm chằm vào chiếc xe xa lạ. Không hề có sự ngạc nhiên, không hề có sự sợ hãi hay hiếu kỳ của những người dân sơn cước khi thấy người thành phố. Ánh mắt của họ tĩnh lặng, lạnh lẽo, mang theo một sự chờ đợi kỳ quái.
“
Mẹ kiếp, cái làng này sao rùng rợn thế? Nhìn ánh mắt bọn họ kìa, cứ như muốn ăn tươi nuốt sống chúng ta vậy,”
Hà Tuấn Dương lầm bầm chửi thề, tay theo bản năng đưa xuống vỗ vỗ vào khối phồng cộm bên hông áo khoác.
Đường Dự Hành cũng khẽ nhíu mày, nhưng lòng tham đã nhanh chóng lấn át sự bất an. Hắn tấp xe vào bãi đất trống trước một gian nhà trọ cũ kỹ xây bằng gỗ lim đen bóng. Ngay khi chúng tôi vừa bước xuống xe, một cơn gió lạnh buốt từ khe núi thổi thốc tới, mang theo mùi hương trầm cháy dở thoang thoảng.
Ở gốc cây đa cổ thụ gần nhà trọ, một bà cụ mặc áo bông cũ nát đang ngồi bán vài thứ đồ lặt vặt như đậu phụ khô và bánh nếp. Bà cụ có khuôn mặt nhăn nheo như vỏ vỏ cây khô, đôi mắt đục mờ gần như bị kéo màng trắng. Khi tôi bước ngang qua, bà cụ đột nhiên vươn bàn tay gầy guộc, khô khốc như móng chim ưng tóm chặt lấy vạt áo khoác của tôi.
“
Cô nương…”
Giọng bà cụ khàn đặc, rít lên như tiếng hai thanh sắt cọ vào nhau. “
Lâu lắm rồi… lâu lắm rồi Thất Âm Trấn mới có khách đến xem hát.”
Hà Tuấn Dương giật mình, vội vàng bước lên định hất tay bà cụ ra, quát lớn:
“
Bà già điên này, bỏ tay ra! Ai đến xem hát? Chúng tôi đến làm việc!”
Nhưng tôi đã nhanh hơn, khẽ gạt tay Tuấn Dương ra, cúi xuống mỉm cười dịu dàng với bà cụ, nhẹ giọng đáp lại:
“
Đúng vậy thưa bà. Lần này đoàn khách đến xem hát… rất đông, rất náo nhiệt.”
Bà cụ nghe vậy, khóe miệng nhăn nheo từ từ nhếch lên, tạo thành một nụ cười quỷ dị. Bà buông vạt áo tôi ra, lại cúi gầm mặt xuống rổ bánh nếp, miệng lẩm bẩm những âm điệu không rõ nghĩa. Đường Dự Hành kéo tay tôi đi thẳng vào nhà trọ, giọng bực dọc:
“
Em để ý người điên làm gì. Đi mau, chọn phòng rồi nghỉ ngơi, ngày mai chúng ta còn phải làm việc lớn.”
Tôi ngoan ngoãn bước theo hắn. Bọn họ hoàn toàn không nhận ra ý nghĩa thực sự trong câu nói của bà cụ. Bọn họ tưởng Thất Âm Trấn là một ngôi làng lạc hậu, mê tín. Nhưng họ không biết rằng, dòng họ Mạc của tôi đã cai quản nơi này suốt mười hai đời. Chúng tôi được gọi là “Hộ Hí Nhân” — những người trông coi hí viện. Ngôi làng này sống dựa vào một quy luật tàn khốc. Cứ mỗi chu kỳ mười hai năm, oán khí từ hí viện cổ dưới lòng đất sẽ tích tụ đến mức giới hạn. Những vong linh bị phong ấn bên dưới cần “khán giả” mang sinh khí để hiến tế, để chúng biểu diễn, để xả oán hận. Nếu không có khán giả, phong ấn sẽ vỡ, và toàn bộ người dân trong trấn sẽ trở thành vật tế thần.
Năm nay, chính xác là năm thứ mười hai. Bà ngoại tôi, Mạc lão thái, đã gửi cho tôi một bức thư tay từ sáu tháng trước. Nội dung chỉ vỏn vẹn mấy chữ: *”
Sân khấu đã dọn xong, vắng bóng khán giả.”*
Và tôi, đứa cháu gái ngoan ngoãn, đã dắt tay Đường Dự Hành cùng đám bạn của hắn về đây. Chúng tự xưng là nhà làm phim, nhưng trên trán chúng đã khắc sẵn hai chữ:
“Khán giả”.
Đêm đó, nhà trọ chìm trong sự tĩnh lặng đáng sợ. Không có tiếng côn trùng kêu, không có tiếng chó sủa. Không gian vắng lặng đến mức tôi có thể nghe rõ tiếng mạch máu đập thình thịch trong màng nhĩ. Tôi được xếp ở một phòng nhỏ trên tầng hai, trong khi ba người bọn Dự Hành ở chung một căn phòng lớn ngay sát vách.
Tường của nhà trọ này làm bằng ván gỗ thông mỏng, đã mục ruỗng qua thời gian. Bọn chúng nghĩ rằng chỉ cần nói nhỏ là tôi sẽ không nghe thấy. Nhưng chúng không biết, kiến trúc của Thất Âm Trấn được thiết kế theo nguyên lý cộng hưởng âm thanh. Chỉ cần áp tai vào một vết nứt nhỏ trên vách gỗ, mọi tiếng động từ phòng bên cạnh sẽ được truyền đến rõ mồn một, giống như đang gài máy nghe lén vậy.
Tôi nằm trên chiếc giường trải chiếu cói, lặng lẽ tháo chiếc kẹp tóc, cẩn thận nhét nó vào một khe hở giữa hai tấm ván để nong rộng vết nứt, sau đó áp sát tai vào.
Tiếng bật lửa lách cách vang lên. Một mùi thuốc lá rẻ tiền len lỏi qua khe gỗ.
“Mẹ kiếp, cái chỗ quỷ quái này làm tôi ngột ngạt quá,”
Giọng Hà Tuấn Dương ồm ồm vang lên, mang theo sự bực dọc. “Dự Hành, cậu chắc chắn vụ này trót lọt chứ? Đừng có bảo tôi lặn lội hàng ngàn ki lô mét đến cái chốn khỉ ho cò gáy này chỉ để hốt được mấy đống gạch vụn nhé.”
“Anh bình tĩnh đi,”
Giọng Phùng Ngữ Yên cất lên, sắc lạnh và đầy toan tính. “Tôi đã giám định kỹ lưỡng cuốn gia phả mà Dự Hành trộm được từ phòng trọ của con ranh con kia ở Bắc Kinh rồi. Thất Âm Trấn không chỉ là một ngôi làng. Bên dưới ngôi miếu đổ nát ở cuối làng chính là một hí viện ngầm được xây từ thời nhà Minh. Nhưng thứ chúng ta cần không phải là kiến trúc, mà là bộ ‘Thất Thanh Diện’.”
Nghe đến bốn chữ “Thất Thanh Diện”, tôi khẽ nhắm mắt lại. Quả nhiên, mục tiêu của chúng là báu vật trấn phái của Hộ Hí Nhân.
“Thất Thanh Diện?”
Tuấn Dương hỏi lại, giọng nghi hoặc.
Đường Dự Hành hắng giọng, âm điệu không còn chút dịu dàng nào của một người bạn trai, mà chỉ còn sự lạnh lẽo của một tên tội phạm ranh ma. “Đúng vậy. Bảy chiếc mặt nạ hí kịch cổ. Tương truyền chúng được chế tác từ ngọc bích nguyên khối, khảm vàng ròng, tượng trưng cho bảy cảm xúc của con người: Hỉ, Nộ, Ai, Cụ, Ái, Ố, Dục. Theo thông tin từ giới đồ cổ ngầm, một vị đại gia ở Đông Nam Á đang treo giá ba mươi triệu tệ cho toàn bộ bảy chiếc mặt nạ này. Ba mươi triệu tệ đấy, Tuấn Dương! Làm xong vụ này, chúng ta có thể rửa tay gác kiếm, ra nước ngoài sống sung sướng cả đời.”
Tuấn Dương huýt sáo một tiếng rõ to. “Ba mươi triệu tệ? Chà, nghe bùi tai đấy. Nhưng mà còn con ranh Dao Nguyệt thì sao? Nó dẫn đường xong rồi, chúng ta xử lý nó thế nào? Chẳng lẽ chia phần cho nó?”
Một khoảng lặng ngắn bao trùm căn phòng bên kia. Sau đó, tiếng cười khẩy của Phùng Ngữ Yên vang lên. “Anh ngây thơ thế? Nó biết mặt chúng ta, biết thân phận của chúng ta. Giữ nó sống để nó báo cảnh sát à? Dưới cái hí viện ngầm đó thiếu gì cạm bẫy, hố sâu. Cứ đẩy nó xuống một cái hố nào đó, coi như tai nạn trong lúc quay phim tài liệu. Chẳng ai tìm được xác nó đâu.”
“Dự Hành, cậu thấy sao?”
Tuấn Dương hỏi. “Dù sao cậu cũng ăn nằm với nó hai năm trời. Có nỡ ra tay không?”
Tôi áp sát tai hơn nữa, nín thở chờ đợi câu trả lời của kẻ mà tôi đã gọi là “bạn trai” suốt sáu trăm ngày qua.
“
Một con ngốc nhà quê thôi mà,”
Đường Dự Hành đáp, giọng nói nhẹ bẫng như đang nói về việc vứt bỏ một chiếc áo rách. “
Tôi tiếp cận nó ngay từ năm nhất đại học chỉ vì biết nó mang họ Mạc, xuất thân từ Thất Âm Trấn. Ở bên cạnh nó nhạt nhẽo muốn chết, đụng nhẹ một cái là đỏ mặt, làm gì cũng rụt rè. Nếu không vì bộ mặt nạ ba mươi triệu tệ, tôi đã đá nó từ tám đời rồi. Ngày mai ép nó dẫn đường xuống hí viện. Lấy được đồ xong, giải quyết nó cho sạch sẽ. Không để lại dấu vết.”
Tôi từ từ rút tai khỏi vách ván, nằm thẳng người lại trên giường, nhìn chằm chằm lên trần nhà giăng đầy mạng nhện. Mặc dù đã biết trước bản chất của bọn chúng, nhưng khi nghe chính miệng hắn thốt ra những lời tuyệt tình, trái tim tôi vẫn khẽ nhói lên một nhịp. Hai mươi mốt tuổi, mối tình đầu tiên, những cái nắm tay, những buổi xem phim, những lời thề non hẹn biển… tất cả chỉ là một kịch bản tàn nhẫn được dàn dựng hoàn hảo để dọn đường cho lòng tham.
Con người, thực sự đôi khi còn đáng sợ hơn cả những vong linh oán hận đang gào thét dưới lòng đất sâu.
Tôi thò tay vào túi áo khoác, lấy ra một chiếc hộp nhạc nhỏ bằng gỗ chạm khắc tinh xảo. Đây là món quà kỷ niệm một năm yêu nhau mà Đường Dự Hành đã tặng tôi. Hắn bảo chiếc hộp nhạc này phát ra một giai điệu rất êm dịu, giúp tôi bớt chứng mất ngủ. Hắn không hề biết rằng, chính tôi đã cố tình dẫn hắn đến cửa hàng đồ cổ đó, cố tình để hắn mua chiếc hộp nhạc này. Bởi vì, cơ chế bánh răng bên trong nó đã bị tôi bí mật thay đổi toàn bộ. Nó không còn phát ra bản nhạc Beethoven nào cả. Khi được mở ra, nó sẽ tấu lên “Thất Thanh Khúc” — bản nhạc dùng để điều khiển toàn bộ cạm bẫy và vong linh bên trong hí viện Thất Âm.
Tôi khẽ vuốt ve bề mặt hộp nhạc, khóe môi cong lên tạo thành một nụ cười lạnh lẽo trong bóng tối.
“Được thôi, Dự Hành. Nếu anh đã muốn xem kịch đến vậy, ngày mai, tôi sẽ cho anh một vị trí khách quý.”
Sáng hôm sau, sương mù trên núi vẫn chưa tan hết, mờ mịt và buốt giá. Tôi vừa bước ra khỏi phòng, còn đang diễn bộ dạng ngái ngủ ngơ ngác, thì một bàn tay thô bạo túm lấy cổ áo tôi, đẩy mạnh tôi ép sát vào vách tường gỗ.
Lưng tôi đập mạnh vào ván gỗ đau điếng. Trước mặt tôi không phải là một Đường Dự Hành ấm áp nho nhã nữa, mà là một gã đàn ông với đôi mắt vằn tia máu, khuôn mặt vặn vẹo vì sát khí. Hắn giơ chiếc điện thoại thông minh của tôi lên, bóp nát nó bằng một cú dậm chân tàn nhẫn xuống sàn nhà. Tiếng màn hình kính vỡ vụn vang lên chói tai.
“Anh… anh làm gì vậy Dự Hành? Anh điên rồi sao?”
Tôi hét lên, toàn thân run rẩy kịch liệt, đôi mắt mở to ngập tràn sự kinh hoàng. Nước mắt tôi trào ra ngay lập tức. Tôi vắt cạn tuyến lệ, rặn ra một biểu cảm bi thương và hoảng loạn mà tôi cá là có thể tranh giải ảnh hậu.
Hà Tuấn Dương và Phùng Ngữ Yên đứng khoanh tay bên cạnh, cười lạnh lùng nhìn tôi như nhìn một con mồi đã nằm gọn trong bẫy. Ngữ Yên nhếch mép, châm một điếu thuốc, nhả khói thẳng vào mặt tôi:
“Đừng diễn nữa em gái. Bọn chị không đến đây để làm phim tài liệu. Bọn chị đến để lấy tiền. Hôm nay em ngoan ngoãn dẫn đường xuống cái hí viện ngầm của nhà em, thì em còn có cơ hội sống sót quay về Bắc Kinh.”
Đường Dự Hành rút từ trong túi áo ngực ra một chiếc máy tính bảng nhỏ, bật màn hình lên rồi dí sát vào mặt tôi. Trên màn hình là một đoạn phim quay lén. Trong phim, tôi đang thay quần áo trong phòng trọ, góc quay được đặt giấu rất kỹ.
Tôi giả vờ sững sờ, hai tay ôm lấy mặt, khóc nấc lên:
“Anh… anh quay lén em? Đồ khốn! Cứu với! Có ai không cứu tôi với!”
“Im miệng!”
Đường Dự Hành tát mạnh một cái vào má tôi. Lực tát không nhẹ, khóe môi tôi rỉ ra một tia máu tanh nồng. “Ở cái xó xỉnh này, em có gào rách cổ họng cũng không ai cứu đâu. Nghe cho rõ đây Mạc Dao Nguyệt. Đoạn phim này đã được cài đặt chế độ tự động gửi. Nếu chiều nay tôi không nhập mật khẩu hủy lệnh, toàn bộ sinh viên trường đại học Bắc Kinh sẽ được chiêm ngưỡng thân thể của em. Danh dự của em, tương lai của em sẽ tan tành thành mây khói. Giờ thì sao? Đã ngoan ngoãn dẫn đường được chưa?”
Tôi trượt dài theo vách tường, ngồi bệt xuống sàn, hai tay ôm mặt khóc nức nở, bả vai run lên từng hồi. Tôi cầu xin hắn:
“Dự Hành… em xin anh… em đã làm gì sai? Hai năm qua em đối xử với anh không tốt sao? Tại sao anh lại đối xử với em như vậy? Dưới hí viện đó nguy hiểm lắm, người làng em cấm tuyệt đối không ai được xuống đó… Sẽ chết người đấy!”
“Chết hay không là việc của chúng tôi.”
Tuấn Dương bước tới, thô lỗ xách cổ áo tôi kéo xệch đứng lên, dí một con dao găm lạnh ngắt vào mạng sườn tôi. “Đi trước dò đường. Bước sai một bước, tao đâm thủng ruột mày. Đi!”
Tôi lảo đảo bước đi, tiếng nấc vẫn nghẹn trong cổ họng, tay phải run rẩy đưa vào túi áo khoác, nắm chặt lấy chiếc hộp nhạc nhỏ.
Bọn chúng tin sái cổ vào màn kịch của tôi. Sự kiêu ngạo của những kẻ tự xưng là văn minh, từ thành phố lớn đến, khiến chúng coi thường một cô gái quê mùa. Chúng nghĩ dùng đoạn phim nhạy cảm là có thể khống chế được tôi. Nhưng chúng không biết rằng, đối với Hộ Hí Nhân, danh dự chốn phàm trần chẳng có nghĩa lý gì khi so sánh với sứ mệnh trấn giữ vong linh. Đoạn phim đó có được gửi hay không, tôi hoàn toàn không bận tâm. Bởi vì, những kẻ đã bước vào Thất Âm Trấn với dã tâm, vốn dĩ đã là những xác chết biết đi.
Chúng tôi rời khỏi nhà trọ, đi bộ men theo con đường mòn nhỏ hẹp dẫn ra phía sau thung lũng, nơi có một ngôi miếu cổ đã hoang tàn từ lâu. Dọc đường đi, tôi thỉnh thoảng quay đầu lại nhìn. Không có bóng dáng người dân nào xuất hiện. Nhưng tôi biết, họ đang trốn sau những cánh cửa sổ đóng kín, âm thầm quan sát bầy vật tế đang tự nguyện dâng mình cho quỷ dữ.
Ngôi miếu cổ nằm lọt thỏm giữa một khe đá u ám, rêu xanh phủ kín những bức tượng thần Phật đã vỡ nát. Không khí ở đây lạnh buốt đến thấu xương, mùi ẩm mốc xộc thẳng vào mũi khiến người ta có cảm giác buồn nôn. Phùng Ngữ Yên bịt mũi, càu nhàu:
“Chỗ quái quỷ gì thế này? Hí viện nằm ở đâu? Đừng bảo con ranh này dẫn chúng ta đi vòng vèo câu giờ nhé?”
“Nó không dám đâu.”
Đường Dự Hành đẩy mạnh tôi về phía trước. “Mở cửa đi, Nguyệt.”
Tôi cắn môi, rụt rè bước tới trước bệ thờ trung tâm. Tôi đưa tay, gạt đi lớp mạng nhện dày đặc, rồi nhấn mạnh vào con mắt trái của một bức tượng kỳ lân bằng đá.
Một tiếng ầm ầm trầm đục vang lên từ sâu dưới lòng đất, kéo theo sự chấn động nhẹ khiến lớp bụi trên trần miếu rơi lả tả. Bệ thờ khẽ nứt ra ở giữa, rồi từ từ trượt sang hai bên, để lộ ra một lối đi tối đen như mực, dẫn thẳng xuống dưới bằng một dãy cầu thang đá xoắn ốc sâu hun hút. Một luồng gió âm u, mang theo mùi của thứ gì đó ngòn ngọt pha lẫn mùi máu khô từ dưới đáy hầm thổi thốc lên, khiến ngọn đuốc trên tay Tuấn Dương chao đảo dữ dội.
“Thiết kế tinh xảo thật.”
Ánh mắt Dự Hành sáng rực lên sự tham lam. Hắn chĩa đèn pin xuống dưới, nhưng ánh sáng chỉ soi được vài bậc thang rồi bị bóng tối đặc quánh nuốt chửng. Hắn hất cằm về phía tôi:
“Xuống trước. Cứ theo sát nó, Tuấn Dương.”
Tôi giả vờ run rẩy bám vào vách tường đá lạnh lẽo, từng bước dò dẫm đi xuống. Hí viện Thất Âm được xây dựng theo hình phễu trôn ốc ngược, gồm bảy tầng, mỗi tầng tương ứng với một sảnh biểu diễn. Càng đi xuống sâu, không khí càng ngột ngạt. Tiếng bước chân của bốn người chúng tôi vang vọng vách đá, tạo ra những âm thanh lộp cộp rợn người.
Khoảng mười lăm phút sau, chúng tôi chạm đáy tầng đầu tiên. Trước mặt là một khoảng không gian rộng lớn, bị chặn lại bởi một cánh cửa gỗ lim khổng lồ, sơn màu đỏ sẫm như màu máu khô. Trên đỉnh cánh cửa, một chữ Hán lớn được chạm khắc sâu vào gỗ, phủ lên một lớp bột chu sa đỏ chót: **HỈ**.
Hỉ Sảnh — Sảnh của Niềm Vui.
“Đến nơi rồi sao?”
Hà Tuấn Dương liếm môi, bước lên phía trước, dùng sức đẩy mạnh cánh cửa gỗ.
Kẽo kẹt… Cánh cửa nặng nề mở ra, giải phóng một mùi hương trầm nồng nặc đến mức làm người ta váng vất. Bên trong Hỉ Sảnh là một không gian hình bán nguyệt. Chính giữa là một sân khấu gỗ cao khoảng nửa mét, xung quanh bày la liệt những dải lụa đỏ, đèn lồng đỏ treo lơ lửng trên trần nhà. Mọi thứ đều được nhuốm trong một sắc đỏ rực rỡ nhưng lại mang đến cảm giác ma quái đến tột cùng.
Đột nhiên, phụt! Phụt! Phụt!
