Ăn Phở Nghe Truyện Tâm Linh. Văn án: Xưởng đèn cuối con phố cổ vẫn sáng đèn mỗi đêm. Bốn người thợ miệt mài hoàn thành chiếc đèn kéo quân cuối cùng cho đêm Nguyên Tiêu. Nhưng khi ngọn nến ở tâm đèn được thắp lên, bóng hắt trên bốn bức tường không phải hình hoa điểu ngư trùng, mà là bốn hình người quằn quại trong biển lửa. Cô thợ trẻ nhất, người đinh ninh mình vừa đến xưởng hôm qua, không giải thích nổi vì sao trên hai bàn tay mình chi chít vết bỏng mà cô chưa từng nhớ mình bị bỏng bao giờ.
Tôi luôn tin rằng trên đời này mọi thứ đều có thể giải thích bằng logic, khoa học và một chút tư duy phân tích. Nếu bạn thấy một vệt sáng bay ngang bầu trời, đó không phải là đĩa bay của người ngoài hành tinh, mà là rác vũ trụ bốc cháy khi ma sát với tầng khí quyển. Nếu bạn nghe tiếng bước chân trên gác mái vào lúc nửa đêm, đó không phải là oan hồn đòi mạng, mà chỉ là lũ chuột cống đang tổ chức đại hội thể thao.
Và nếu bạn cảm thấy lạnh sống lưng khi bước vào một con ngõ tối tăm ở Hàng Châu vào những ngày giáp rằm tháng giêng, thì đó hoàn toàn là do luồng gió bấc mang theo hơi ẩm của vùng Giang Nam thổi xuyên qua lớp áo khoác dạ của bạn, cộng thêm việc chính quyền thành phố chưa kịp thay bóng đèn đường bị hỏng. Chấm hết. Không có ma quỷ, không có siêu nhiên. Chỉ có vật lý và cơ sở hạ tầng tồi tàn.
Đó là những gì tôi, Hà Dĩnh, một sinh viên năm ba khoa mỹ thuật công nghiệp, tự nhủ với bản thân khi kéo chiếc vali nặng trĩu bước rảo chân trên con phố cổ vắng tanh.
Bánh xe vali nghiến lên mặt đường lát đá xanh lởm chởm, tạo ra thứ âm thanh lục cục nhức nhối. Tôi thầm nguyền rủa cái thiết kế đô thị bảo tồn di sản này. Giữ lại nét cổ kính thì cũng tốt, nhưng ít nhất cũng nên tráng một lớp xi măng cho người đi bộ nhờ chứ. Vali của tôi là hàng hiệu đắt tiền, hỏng cụm bánh xe thì ai đền?
Tôi rút điện thoại thông minh ra khỏi túi áo, màn hình sáng rực hắt lên khuôn mặt đang cau có của tôi. Sóng mạng không dây chỉ còn đúng một vạch mỏng manh như sợi chỉ. Tôi mở ứng dụng tin nhắn, đọc lại dòng địa chỉ mà Lương Khải đã gửi.
Lương Khải là đàn anh khóa trên, hay trong giới sinh viên chúng tôi thường gọi là học trưởng. Anh ta là nghiên cứu sinh chuyên ngành bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. Một người kỳ lạ. Lúc nào anh ta cũng mặc áo sơ mi cài kín đến tận nút trên cùng, nói chuyện chậm rãi, và có cái tật vô cùng đáng ghét là luôn trả lời câu hỏi bằng một câu hỏi khác. Nhưng phải thừa nhận, Lương Khải có mạng lưới quan hệ vô cùng rộng trong giới nghệ nhân truyền thống. Chính anh ta đã giới thiệu tôi đến thực tập tại xưởng đèn lồng Phùng Ký, một cơ hội vàng để tôi hoàn thành đồ án cuối kỳ với điểm số tối đa.
Tôi gõ phím cành cạch, gửi đi một tin nhắn hằn học.
“Học trưởng, anh chắc chắn cái xưởng Phùng Ký này nằm ở cuối hẻm phố cổ không? Em đi rã rời cả hai chân rồi mà chỉ thấy toàn tường rêu với cửa gỗ đóng kín mít. Chỗ này hoang vắng đến mức em có cảm giác mình sắp xuyên không về thời nhà Thanh đến nơi rồi.”
Tin nhắn báo đã gửi, nhưng biểu tượng đã xem không hiện lên. Chắc anh ta lại đang bận rộn với mớ tài liệu khảo cổ chết tiệt nào đó. Tôi nhét điện thoại vào túi, hít một hơi thật sâu, tiếp tục lê bước.
Hàng Châu tháng giêng mang một cái lạnh thấu xương. Hơi ẩm từ Tây Hồ dường như len lỏi vào từng viên gạch, từng thớ gỗ. Con phố cổ này nằm lọt thỏm giữa lòng thành phố hiện đại, nhưng lại như bị thời gian bỏ quên. Không có ánh đèn nê ông chớp tắt, không có tiếng còi xe ồn ào. Hai bên đường là những dãy nhà gỗ hai tầng, mái ngói âm dương xô lệch, rêu phong bám đầy.
Đi thêm khoảng ba trăm mét, cuối cùng tôi cũng nhìn thấy đích đến. Một ngôi nhà gỗ xập xệ nằm ở tận cùng con ngõ cụt. Phía trên cánh cửa gỗ lim dày cộp là một bức hoành phi đã bong tróc sơn vàng, lờ mờ hiện ra ba chữ Hán: Phùng Ký Phường.
Ánh sáng vàng vọt hắt ra từ khe cửa, chứng tỏ bên trong có người. Tôi chỉnh lại cổ áo, vuốt lại mái tóc cho gọn gàng. Tôi là một người theo chủ nghĩa hoàn hảo. Dù là đi xin việc, đi thực tập hay đi mua rau ngoài chợ, tôi cũng phải giữ hình ảnh chỉnh chu nhất. Một nếp nhăn trên áo cũng đủ làm tôi khó chịu suốt cả buổi sáng.
Tôi tiến đến trước cánh cửa, giơ tay gõ nhẹ ba tiếng.
Không có tiếng trả lời. Chỉ có tiếng gió rít qua những khe hở của mái ngói.
Tôi nhíu mày, dùng sức đẩy mạnh cánh cửa. Tiếng bản lề rỉ sét rít lên một hồi chói tai, cánh cửa gỗ nặng nề hé mở.
Tôi bước một chân vào trong. Và rồi, một chuyện vô cùng ngu ngốc xảy ra.
Mũi giày dạ của tôi vấp mạnh vào cái bậc cửa bằng gỗ gụ cao đến tận bắp chân. Toàn bộ trọng tâm cơ thể mất thăng bằng. Tôi ngã nhào về phía trước, hai tay vung vẩy trong không trung, chiếc vali tuột khỏi tay lăn lóc trên mặt sàn.
Tôi ngã sấp mặt xuống nền gạch nung lạnh ngắt. Cú ngã mạnh đến mức luồng không khí trong phổi bị ép sạch ra ngoài, khiến tôi ho sặc sụa.
“Trời đất quỷ thần ơi!”
Tôi lầm bầm chửi thề, lồm cồm bò dậy, đưa tay phủi bụi trên chiếc áo dạ đắt tiền. “Ai thiết kế cái bậc cửa cao ngất ngưởng thế này? Định chống lụt hay là bẫy người tàn tật vậy?”
Tôi bực dọc nhìn xuống chân mình. Rõ ràng tôi đã định nhấc chân bước qua, não bộ đã phát ra tín hiệu điều khiển cơ bắp, nhưng không hiểu sao khớp cổ chân lại cứng đơ, nặng chịch như bị đổ chì, hoàn toàn không nhấc lên nổi. Tôi tự biện minh rằng do đi bộ quá lâu, cộng thêm thời tiết lạnh giá làm cơ bắp bị co rút, máu huyết lưu thông kém dẫn đến tê mỏi. Rất hợp lý. Khoa học đã chứng minh nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến khả năng vận động của các khớp xương.
Tôi đứng thẳng dậy, xoa xoa đầu gối, lúc này mới bắt đầu quan sát khung cảnh bên trong xưởng.
Mùi đầu tiên xộc vào mũi tôi là mùi hồ dán nấu bằng bột nếp, pha lẫn với mùi tre khô và một thứ mùi khen khét cực kỳ khó tả, giống như mùi giấy cháy dở bị dập tắt bằng nước lạnh. Không gian xưởng rất rộng, trần nhà cao vút lộ ra những xà gồ bằng gỗ đen bóng. Ánh sáng duy nhất phát ra từ vài ngọn đèn sợi đốt treo lủng lẳng trên trần, tỏa ra thứ ánh sáng vàng ệch, mờ ảo.
Giữa xưởng là một cái bàn gỗ khổng lồ, trên đó đặt một khung tre hình trụ cao hơn đầu người. Đó chắc chắn là bộ xương của chiếc đèn kéo quân cỡ lớn.
Ngồi sau chiếc bàn, khuất trong mảng tối là một người phụ nữ lớn tuổi. Bà ấy mặc bộ đồ lụa màu xám tro kiểu cũ, tóc búi cao gọn gàng bằng một cây trâm gỗ. Bà ấy ngồi bất động, lưng thẳng tắp, tay phải cầm một cây bút lông nhỏ xíu, liên tục chấm mực rồi phác họa lên một tấm giấy dó trải dài trên mặt bàn.
Tôi đoán đây chính là Phùng Nghi, vị nghệ nhân làm đèn lồng nổi tiếng mà Lương Khải đã nhắc đến.
Tôi hắng giọng, cố nặn ra một nụ cười chuyên nghiệp nhất có thể, cất giọng chào.
“Cháu chào sư phụ Phùng. Cháu là Hà Dĩnh, sinh viên đại học mỹ thuật. Học trưởng Lương Khải giới thiệu cháu đến đây phụ việc và học hỏi ạ.”
Không có phản hồi. Người phụ nữ ngước mắt lên nhìn tôi một cái cũng không. Bàn tay bà ấy vẫn thoăn thoắt đưa những nét cọ điêu luyện lên mặt giấy. Động tác của bà ấy đều đặn, nhịp nhàng một cách kỳ lạ, giống như một cỗ máy đã được lập trình sẵn. Không thừa, không thiếu, không hề có một giây ngập ngừng.
Tôi đứng chôn chân tại chỗ, nụ cười trên môi dần cứng lại. Cái quái gì thế này? Dù bà ấy có là nghệ nhân tài ba đến mức nào thì phép lịch sự tối thiểu cũng phải có chứ. Khách vào nhà ngã sấp mặt không thèm hỏi han, chào hỏi cũng không thèm đáp. Tôi bắt đầu phân tích tâm lý. Nghệ nhân truyền thống thường mắc bệnh ngôi sao ngầm, họ thích tỏ ra bí ẩn, cao ngạo để nâng cao giá trị bản thân. Hoặc cũng có thể bà ấy bị lãng tai. Người già mà, thính giác suy giảm là chuyện bình thường.
Tôi định bước tới gần hơn để lặp lại câu chào thì đột nhiên, từ phía sau bức bình phong bằng gỗ chạm trổ góc xưởng, một giọng nữ cất lên.
“Gió đưa cành trúc la đà… Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương…”
Giọng hát lảnh lót, trong trẻo, mang âm hưởng dân ca vùng Giang Nam, nhưng lại có chút ma mị vang vọng trong không gian tĩnh mịch.
Một cô gái trẻ bước ra. Cô ấy trạc hai mươi ba tuổi, mặc áo bông chần họa tiết hoa nhí, tóc thắt hai bím vắt qua vai. Khuôn mặt cô ấy thanh tú, môi đỏ choót, hai má đánh phấn hồng đậm nét, mang đậm phong cách trang điểm của những nữ diễn viên kinh kịch thập niên tám mươi.
Cô gái nhìn thấy tôi, đôi mắt sáng rực lên. Cô ấy vứt toẹt bó lạt tre trên tay xuống đất, chạy ào tới chỗ tôi.
“Ây da, tiểu Dĩnh phải không? Cuối cùng nhóc cũng đến rồi! Lương Khải bảo nhóc sẽ đến phụ chúng ta làm chiếc đèn Nguyên Tiêu này. Chờ nhóc nãy giờ rát cả ruột!”
Vừa nói, cô ấy vừa nắm lấy tay tôi lắc lắc nhiệt tình.
Khoảnh khắc bàn tay cô ấy chạm vào da thịt tôi, tôi giật bắn mình. Lạnh. Một cái lạnh buốt tận óc, giống như việc bạn vô tình thò tay vào ngăn đá tủ lạnh và bị dính chặt vào khay đá kim loại. Không có một chút hơi ấm sinh học nào từ lòng bàn tay cô ấy truyền sang.
Tôi vô thức giật mạnh tay lại, lùi về sau nửa bước, ánh mắt hiện rõ sự cảnh giác.
Cô gái chớp mắt, cười xòa.
“Chị làm nhóc giật mình à? Chị là Kỷ Vấn, thợ học việc của sư phụ Phùng. Ở đây chị là người vào nghề sớm nhất, nhóc cứ gọi chị là chị Vấn.”
Tôi gượng gạo xoa xoa bàn tay đang nổi đầy gai ốc của mình, cố tìm một lời giải thích hợp lý cho nhiệt độ cơ thể bất thường kia.
“Dạ, chào chị Vấn. Chỉ là… tay chị lạnh quá. Chị bị hội chứng Raynaud à? Hội chứng co thắt mạch máu ngoại vi khi gặp lạnh ấy. Bệnh này phổ biến ở phụ nữ trẻ lắm, chị nên mua găng tay giữ nhiệt mà đeo.”
Tôi thao thao bất tuyệt kiến thức y khoa nửa mùa mà mình từng đọc trên mạng internet, cốt để xua đi cái cảm giác rờn rợn trong lòng. Kỷ Vấn nghiêng đầu, đôi mắt to tròn nhìn tôi chằm chằm, nụ cười trên môi không hề thay đổi biên độ, chính xác đến từng milimet.
“Hội chứng gì cơ? Chị không biết. Nhưng mà làm đèn kéo quân thì không được đeo găng tay, sẽ làm rách giấy dó mất. Nhóc mau cất đồ đi rồi ra phụ một tay, chúng ta phải hoàn thành khung đèn trước bình minh đấy.”
Kỷ Vấn nói xong, xoay người đi về phía chiếc bàn lớn, miệng lại bắt đầu ngân nga câu hát ban nãy.
“Gió đưa cành trúc la đà… Tiếng chuông Trấn Vũ…”
Tôi cau mày. Bài hát lặp lại y chang, vấp đúng ở nhịp điệu đó, cách nhả chữ cũng không sai lệch một âm sắc nào. Tôi tự nhủ, chắc cô gái này mắc chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế nhẹ, thích lặp lại một hành vi để giảm bớt căng thẳng. Rất nhiều sinh viên khoa tôi cũng bị như vậy mỗi khi đến kỳ nộp đồ án.
Tôi kéo vali vào một góc tường, cởi áo khoác dạ vắt lên ghế. Lúc này, tôi mới để ý thấy ở ngoài khoảng sân nhỏ phía sau xưởng, có một bóng người đang cặm cụi làm việc.
Đó là một thanh niên trạc hai mươi bốn tuổi, vóc dáng cao gầy, mặc áo sơ mi vải thô màu xanh công nhân xắn tay áo quá khuỷu. Anh ta cầm một con dao rựa lớn, thoăn thoắt chẻ những ống tre khổng lồ thành từng thanh lạt mỏng tang.
Tiếng dao chẻ tre vang lên đều đặn. Phập. Tách. Phập. Tách.
Tôi bước ra mép cửa sau, định mở miệng chào. Nhưng hành động tiếp theo của anh ta làm tôi khựng lại.
Chẻ xong một khúc tre, anh ta dừng tay, ngẩng phắt đầu lên nhìn chòng chọc vào góc mái nhà phía đông. Ánh mắt anh ta chứa đựng sự hoảng loạn tột độ, hai bàn tay vô thức khum lại trước ngực, tư thế giống như đang cố che chắn bảo vệ một thứ gì đó vô hình khỏi sự phá hủy. Anh ta đứng bất động như tượng đá suốt năm giây đồng hồ.
Sau đó, như có một công tắc được bật lại, anh ta chớp mắt, cúi xuống, tiếp tục chẻ tre.
Kỷ Vấn đi ngang qua, vỗ vai tôi.
“Đó là anh Châu Dực, thợ phụ chuyên lo phần khung sườn trúc. Anh ấy hiền lắm, chỉ tội ít nói. Nhóc đừng để ý.”
Tôi gật gù. “Anh ấy đang nhìn gì trên mái nhà vậy chị? Bị dột à?”
Kỷ Vấn cười khúc khích.
“Làm gì có. Chắc ảnh mỏi cổ nên tập thể dục thôi. Nào, lại đây, nhiệm vụ của nhóc là cắt hoa văn trên giấy dó. Phải thật cẩn thận, loại giấy này do đích thân sư phụ Phùng đặt làm thủ công từ vùng Tuyên Thành, rách một tấm là đền ốm đấy.”
Tôi xắn tay áo sơ mi, bước đến bên chiếc bàn làm việc. Sự tò mò và cảm giác bất an ban đầu nhanh chóng bị thứ bản tính cầu toàn, thích kiểm soát của tôi đè bẹp. Trước mặt tôi là những tấm giấy dó thượng hạng, mỏng như cánh ve, dai như lụa, phản phất mùi vỏ cây thanh khiết. Dao rọc giấy, thước nhôm, thảm lót cắt, tất cả đều được bày biện ngay ngắn. Đây là thế giới của tôi, nơi tôi nắm quyền làm chủ. Bất kể những con người ở đây có lập dị đến đâu, nhiệm vụ của tôi là hoàn thành công việc một cách hoàn mỹ nhất.
Sư phụ Phùng Nghi vẫn không thèm nhìn tôi. Bà ấy đang phác họa bức tranh Tứ Bình lên lớp giấy bên ngoài. Tôi đứng đối diện bà, nhận lấy tập giấy trắng từ tay Kỷ Vấn và bắt đầu cắt những hoa văn viền trang trí.
Tiếng lưỡi dao sắc lẹm cứa rọc trên mặt giấy tạo ra âm thanh sột soạt vui tai. Tôi say sưa làm việc, sự tập trung đẩy lùi mọi phiền muộn. Mỗi đường cắt của tôi đều dứt khoát, chính xác. Tôi không cho phép bất kỳ mép giấy nào bị xơ, không cho phép bất kỳ góc nhọn nào bị cong vênh.
Làm nghệ thuật đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối. Đó là nguyên tắc sống của tôi.
Khoảng một tiếng trôi qua. Mắt tôi bắt đầu mỏi vì ánh đèn vàng yếu ớt, nhưng tôi không dừng tay. Tôi đang trổ một họa tiết đám mây rỗng ruột khá phức tạp. Lưỡi dao rọc giấy đi đến khúc cua hẹp nhất. Cổ tay tôi hơi mỏi, lực ấn bị lệch đi nửa ly.
Xoẹt.
Lưỡi dao trượt khỏi mép thước nhôm, cứa thẳng vào ngón trỏ bàn tay trái của tôi.
Tôi khẽ rít lên một tiếng, phản xạ có điều kiện rụt tay lại, vội vàng đưa ngón tay lên miệng định ngậm lấy để cầm máu.
Nhưng động tác của tôi khựng lại giữa không trung.
Tôi nhíu mày, căng mắt nhìn chằm chặp vào ngón tay trỏ. Vết cắt rất sâu, lưỡi dao sắc bén đã xẻ dọc một đường dài gần hai phân. Hai mép da thịt tách ra rõ rệt.
Nhưng, không có một giọt máu nào trào ra.
Bên trong vết cắt, thay vì màu đỏ tươi của máu và màu hồng của mô cơ, tôi chỉ nhìn thấy một mảng xám xịt, khô khốc, giống hệt như màu của miếng bọt biển cũ kỹ bị bỏ quên trong góc bếp.
Tim tôi hẫng đi một nhịp. Sự hoang mang ập đến như một gáo nước lạnh tát thẳng vào mặt. Tại sao lại không chảy máu? Cơ thể con người chứa khoảng năm lít máu, hệ thống mao mạch chằng chịt khắp các đầu ngón tay. Một vết cắt sâu thế này chắc chắn phải phun máu đầm đìa mới đúng chứ.
Tôi dùng ngón cái và ngón giữa bóp mạnh vào hai bên vết thương, cố ép máu chảy ra. Vô ích. Lớp da thịt xám xịt bên trong hoàn toàn trơ lỳ, không có lấy một chút dịch lỏng nào rỉ ra. Hơn nữa, tôi chợt nhận ra một điều kinh khủng: tôi không hề cảm thấy đau. Sự sắc bén của lưỡi dao khi cứa qua da thịt chỉ mang lại một cảm giác ma sát nhẹ hều, giống như ai đó dùng móng tay cào nhẹ lên bề mặt một lớp cao su dày.
“Chuyện quái quỷ gì thế này?”
Tôi lầm bầm trong họng, mồ hôi lạnh bắt đầu túa ra dọc sống lưng.
Lý trí của tôi ngay lập tức nhảy vào cuộc, thiết lập cơ chế phòng vệ quen thuộc. Tôi bắt đầu tự biện luận.
Thứ nhất, thời tiết quá lạnh. Khi nhiệt độ môi trường hạ thấp, các mạch máu ngoại vi sẽ co thắt lại để giữ nhiệt cho cơ thể, dẫn đến việc máu lưu thông kém ở các đầu ngón tay.
Thứ hai, có thể lưỡi dao rất sắc, vết cắt quá ngọt, cộng thêm việc tôi bóp chặt ngay lập tức nên mao mạch tạm thời bị chèn ép, chưa kịp xuất huyết.
Thứ ba, cảm giác đau thường đến chậm do não bộ tiết ra chất hóa học giảm đau tự nhiên khi cơ thể gặp chấn thương đột ngột.
Đúng rồi. Mọi thứ đều có thể giải thích bằng khoa học y khoa. Tôi bị đứt tay, máu chưa kịp chảy vì trời lạnh. Miếng thịt xám xịt kia chắc là do ánh đèn sợi đốt màu vàng tạo ra ảo giác thị giác, làm sai lệch màu sắc thực tế.
Tôi thở hắt ra, vớ lấy miếng băng keo cá nhân trong túi xách, dán chặt vết thương lại. Cứ che nó đi là xong. Khuất mắt trông coi. Tôi tự nhủ mình không được hoảng loạn, không được để trí tưởng tượng phong phú của sinh viên mỹ thuật dọa nạt bản thân.
Tôi cầm dao lên, tiếp tục làm việc. Nhưng lần này, lòng bàn tay tôi ướt đẫm mồ hôi.
Không gian trong xưởng chìm vào sự im lặng quỷ dị. Chỉ có tiếng bút lông quét sột soạt của sư phụ Phùng Nghi, tiếng hát đều đều lặp đi lặp lại của Kỷ Vấn, và tiếng chẻ tre phập phập ngoài sân của Châu Dực.
Thời gian trôi qua nặng nề. Chiếc đồng hồ quả lắc bằng gỗ sồi treo trên vách tường điểm những tiếng tích tắc vô hồn.
Tôi liếc nhìn đồng hồ. Đã hơn hai giờ sáng.
Tôi xoa xoa cái cổ mỏi nhừ, vươn vai ngáp một cái thật dài. Sự mệt mỏi của việc di chuyển cả quãng đường xa cộng với việc tập trung cao độ khiến cơ thể tôi biểu tình. Nhưng khi tôi nhìn sang những người khác, sự bất thường lại một lần nữa đập thẳng vào nhận thức của tôi.
Bọn họ không hề có dấu hiệu mệt mỏi.
Sư phụ Phùng Nghi vẫn duy trì tư thế ngồi thẳng đứng y như lúc tôi mới bước vào. Bàn tay cầm bút của bà ấy không hề run rẩy, không hề hạ xuống nghỉ ngơi lấy một giây. Kỷ Vấn vẫn thoăn thoắt dán hồ, miệng hát đi hát lại đúng một câu dân ca, khuôn mặt tươi tắn không hề lộ chút buồn ngủ. Châu Dực ngoài sân vẫn chẻ tre với tốc độ đều đặn như một cái máy, thỉnh thoảng lại dừng lại, ngước nhìn lên mái nhà với ánh mắt kinh hoàng, rồi lại cúi xuống tiếp tục công việc.
Họ không ngáp. Họ không vươn vai. Họ không đi vệ sinh. Thậm chí, tôi dám chắc rằng nãy giờ họ còn chưa chớp mắt quá ba lần.
Đặc biệt nhất là ấm trà đặt giữa bàn. Lúc tôi mới đến, Kỷ Vấn đã pha một ấm trà ô long bốc khói nghi ngút, rót ra bốn cái chén sứ nhỏ. Bốn chén trà đầy ăm ắp. Suốt mấy tiếng đồng hồ qua, tôi quá chú tâm vào công việc nên quên mất việc uống nước. Nhưng ba người kia cũng không hề động đến chén trà của họ.
Nước trong chén đã nguội ngắt từ lâu, mặt nước phẳng lặng không một gợn sóng, phản chiếu ánh đèn vàng bệch bạc.
Tôi rùng mình. Trực giác mách bảo tôi có thứ gì đó vô cùng sai trái đang diễn ra trong cái xưởng đèn lồng này. Một thứ sai lầm vượt ra ngoài giới hạn của vật lý và sinh học thông thường.
Tôi lén rút điện thoại ra, giấu dưới gầm bàn. Vẫn chỉ có một vạch sóng. Tôi mở khung trò chuyện với Lương Khải, ngón tay cái gõ nhanh đến mức run rẩy.
“Học trưởng, anh mau trả lời em đi. Xưởng Phùng Ký này có vấn đề. Bọn họ làm việc liên tục mấy tiếng đồng hồ không nghỉ ngơi, không uống nước, không đi vệ sinh. Sư phụ Phùng thậm chí không nói một lời nào. Anh giới thiệu em vào cái giáo phái kỳ quái nào vậy?”
Tôi bấm gửi. Lần này, biểu tượng xoay vòng xuất hiện. Vài giây sau, chữ “Đã gửi” hiện lên mờ nhạt.
Tôi hồi hộp nhìn chằm chặp vào màn hình, hy vọng một dòng tin nhắn phản hồi sẽ cứu rỗi sự hoang mang đang lớn dần trong lồng ngực.
Đột nhiên, tiếng ghế gỗ ma sát vào nền gạch vang lên chói tai.
Sư phụ Phùng Nghi đứng dậy.
Đó là lần đầu tiên bà ấy thay đổi tư thế kể từ lúc tôi bước vào xưởng. Bà ấy đặt cây bút lông xuống gác bút, hai tay nâng bức tranh Tứ Bình vừa vẽ xong, cẩn thận ốp vào bộ khung tre khổng lồ mà Châu Dực vừa mang vào lúc nãy. Kỷ Vấn nhanh nhẹn chạy lại, dùng cọ nhúng hồ dán, quết những đường dứt khoát lên mép giấy, miết chặt vào khung tre.
Chiếc đèn kéo quân khổng lồ đã thành hình. Nó cao gần hai mét, hình lục giác, bên ngoài bọc lớp giấy dó vẽ cảnh hoa điểu ngư trùng tinh xảo. Bên trong là một trục xoay bằng tre nhẹ, gắn những hình nhân bằng giấy cắt tỉa tỉ mỉ. Theo nguyên lý vật lý, khi thắp nến ở tâm đèn, luồng khí nóng bốc lên sẽ tạo động lực làm quay chong chóng phía trên, từ đó kéo theo trục xoay bên trong chuyển động. Bóng của các hình nhân sẽ hắt lên mặt giấy dó bên ngoài mờ ảo, tạo thành một đoạn phim hoạt hình thô sơ tuyệt đẹp.
Đây là một kiệt tác. Ngay cả một kẻ mắc bệnh hoàn hảo như tôi cũng không thể tìm ra một điểm trừ nào về mặt kỹ thuật.
Phùng Nghi lùi lại nửa bước, đôi mắt mờ đục nhìn lên chiếc đèn. Bà ấy chậm rãi thò tay vào túi áo, lấy ra một hộp diêm.
Xẹt.
Ngọn lửa nhỏ bùng lên, soi rõ khuôn mặt nhăn nheo, vô hồn của vị nghệ nhân già. Bà ấy châm lửa vào ngọn nến to bằng cổ tay đặt ở tâm chiếc đèn kéo quân.
Ngọn nến bắt lửa. Ánh sáng bừng lên, hắt qua lớp giấy dó, lan tỏa ra khắp không gian xưởng tối tăm.
Không khí nóng bắt đầu bốc lên. Trục xoay bên trong khẽ kêu cọt kẹt, rồi từ từ chuyển động.
Vòng xoay bắt đầu.
Tôi nín thở chờ đợi cảnh tượng những đàn chim bay lượn, những đàn cá bơi lội hắt lên mặt giấy. Tôi chờ đợi vẻ đẹp của nghệ thuật truyền thống mà tôi luôn khao khát được chiêm ngưỡng.
Nhưng không.
Khi trục xoay tăng tốc, bóng hắt lên bốn bức tường xung quanh xưởng không phải là hình hoa điểu ngư trùng.
