Theo dõi phở để rùng mình trong đêm. Văn án: Tôi chết năm mười bảy tuổi, hồn phách vất vưởng nơi bờ vực âm dương, không nhớ nổi tên họ hay vì sao mình lại ra đi lạnh lẽo dưới lòng đầm lầy sương mù. May mắn được Ty Phán Quan nhận vào làm Dẫn Mộng Giả, chuyên đi vào giấc mơ của người sắp chết để ghi lại di nguyện cuối cùng của họ. Công việc của tôi vốn rất bình yên, cho đến một ngày tôi gặp Chu Đại Hữu, lão già giàu có nhưng keo kiệt nhất vùng, kẻ luôn cúng cho tôi những thỏi vàng mã rách nát để cầu xin tài lộc trúng số. Trong giấc mơ cảnh cáo mà tôi tạo ra cho lão theo lệnh phạt, lão nhìn thấy khuôn mặt thật ướt đẫm sương đêm của tôi và kinh hoàng hét lên: Tô Dao, cô về đòi mạng tôi sao? Từ đây, bức màn bí ẩn về cái chết của tôi sáu mươi năm trước dần được hé lộ. Hóa ra, tôi không phải tự ý đi vào đầm lầy tự sát như lời đồn đại, mà cái chết của tôi là cái giá phải trả cho sự hèn nhát của kẻ khác. Cùng lúc đó, vị Phán quan đại nhân lạnh lùng Tần Dạ, người luôn phạt tôi chép gia quy, lại kín đáo dùng cả tính mạng để che chở cho tôi trước sự truy quét của tân Hà Thần sông Tiền Đường. Liệu tôi có thể tìm lại ký ức, hóa giải oán hận và bảo vệ người mình trân quý trước khi tro bụi thời gian xóa nhòa tất cả?
Chốn U Minh quanh năm không có ánh mặt trời, chỉ có những ngọn đèn lồng bọc giấy trắng tỏa ra thứ ánh sáng xanh xao ảm đạm. Ty Phán Quan nằm lọt thỏm giữa sườn núi Hoàng Tuyền, kiến trúc bên ngoài mang dáng dấp của một nha môn thời cổ đại, nhưng bên trong lại chia thành vô số gian phòng lưu trữ ngập tràn hương hỏa. Tôi ngồi vắt vẻo trên bậc thềm đá trước cửa điện Dẫn Mộng, tay lật giở cuốn sổ Nam Tào phiên bản thu gọn dành cho nhân viên cấp thấp, chán nản thở dài.
Tôi là một Dẫn Mộng Giả. Nghề nghiệp này nghe qua thì đầy vẻ huyền bí, nhưng thực chất chẳng khác nào kẻ chạy vặt hầu hạ cảm xúc cho những linh hồn sắp lìa đời. Người phàm trước lúc chết thường có vô vàn chấp niệm. Kẻ tiếc nuối gia tài, người ân hận vì chưa kịp nói lời yêu thương, lại có kẻ chỉ mang một tâm nguyện duy nhất là được ăn bát mì hoành thánh đầu ngõ. Việc của tôi là đi vào giấc mơ của họ, ghi chép lại những di nguyện ấy, nộp lên trên để các vị thần quan xem xét định đoạt. Nếu hoàn thành tốt, tôi sẽ nhận được chút công đức, gom góp đủ thì hy vọng có một ngày được cấp giấy phép đầu thai vào một gia đình khá giả.
Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, tôi không có ký ức.
Kể từ khi tỉnh lại dưới lớp bùn lầy nặc mùi hủ bại sáu mươi năm trước, trong đầu tôi chỉ là một mảng trống rỗng. Không tên tuổi, không thân nhân, không biết vì sao mình chết. Manh mối duy nhất về thân phận của tôi là một nửa mảnh ngọc bội hình hoa sen đã vỡ nát, góc cạnh sứt sẹo, bị phù sa bám chặt. Tôi dùng một sợi dây đỏ luồn qua khe nứt, đeo nó trước ngực như một loại bùa hộ mệnh.
Mao Cầu, con sóc đất tu luyện thành tinh kiêm trợ lý của tôi, nhảy phốc lên đống hồ sơ án mạng, hai chân trước ôm khư khư một hạt dẻ nướng to bằng nắm tay trẻ con. Nó vừa nhai nhóp nhép vừa lúng búng nói:
“Tỷ tỷ, tỷ nhìn xem cái đống rác rưởi này đi! Kẻ nào cúng bái mà bần tiện đến mức này chứ?”
Tôi liếc mắt nhìn xuống khoảng sân gạch rêu phong. Nơi đó đang chất đống một núi đồ cúng tế do phòng phân phát chuyển tới. Gọi là đồ cúng cho sang miệng, chứ thực chất đó là một mớ giấy vụn được cắt dán cẩu thả. Tiền âm phủ thì in lỗi ố vàng, hình ngọc hoàng thượng đế bị in lệch sang một bên trông như đang bị vẹo cổ. Vàng thỏi thì làm bằng giấy báo cũ quết một lớp nhũ vàng mỏng dính, vừa chạm vào bụi phấn đã rụng lả tả. Thậm chí có cả một con ngựa giấy bị thiếu mất một chân, phải đứng tựa vào gốc cây bỉ ngạn mới không đổ gục.
Kẻ cúng bái mớ đồ phế phẩm này không ai khác chính là Chu Đại Hữu, một phú hộ khét tiếng sống tại khu biệt thự đắt đỏ phía tây thành phố Hàng Châu. Lão già này năm nay đã sáu mươi lăm tuổi, sở hữu hàng loạt chuỗi nhà hàng khách sạn, tài sản tính bằng hàng chục tỷ nhân dân tệ. Thế nhưng, độ keo kiệt của lão thì quỷ thần cũng phải chắp tay bái phục. Lão cúng bái hằng tháng đều đặn, không bỏ sót dịp nào, nhưng tuyệt đối không bao giờ mua đồ cúng loại tốt. Lão tự mua giấy nháp về cho nhân viên cắt tay, rồi đem đốt cúng thần linh để cầu mong trúng số độc đắc. Dường như trong tư duy của lão, thần tiên ở cõi âm đều là những kẻ ngu ngốc dễ bị lừa gạt bởi vài tờ giấy lộn.
Tôi dùng mũi giày đá nhẹ vào thỏi vàng giấy xẹp lép, khóe môi nhếch lên một nụ cười nhạt nhẽo. Lòng thành của con người đôi khi rẻ mạt đến mức đáng thương. Lão Chu này cầu xin tài lộc, nhưng lại dùng thái độ bố thí để đối đãi với thần linh. Nếu để ngài ấy nhìn thấy cảnh này, chắc chắn tòa nha môn hôm nay sẽ có một trận bão lớn.
Vừa nghĩ đến “ngài ấy”, một luồng khí lạnh buốt bất chợt tràn vào từ phía hành lang u tối. Những ngọn nến ma trơi đang cháy bập bùng bỗng nhiên vụt tắt, chỉ còn lại những vệt khói xám cuộn xoáy trong không trung. Không gian xung quanh dường như bị đóng băng, luồng áp bách nặng nề khiến linh hồn tôi khẽ run lên.
Tiếng bước chân vững chãi vang lên đều đặn. Tần Dạ bước ra từ bóng tối, thân khoác hắc bào thêu hoa văn mây ám kim, vạt áo dài quét qua thềm đá không vương một hạt bụi. Gương mặt ngài ấy tựa như được tạc từ một khối ngọc thạch ngàn năm, ngũ quan tinh xảo nhưng lạnh lẽo vô tình. Ánh mắt sâu thẳm như vực không đáy, chỉ một cái liếc nhìn cũng đủ khiến vạn quỷ phục tùng. Ngài là Trưởng ty Phán Quan của vùng Hàng Châu, một tồn tại đã sống hơn tám trăm năm, dung mạo dừng lại ở tuổi hai mươi tám, mang theo sự uy nghiêm tột đỉnh của kẻ nắm giữ sinh sát cõi âm.
Mao Cầu sợ hãi nuốt ực hạt dẻ vào bụng, cuộn tròn người lại thành một quả bóng đầy lông, lăn tót vào góc cột trốn tránh. Tôi vội vàng đứng thẳng người, vuốt lại nếp áo, cúi đầu hành lễ thật sâu, cố gắng thu liễm toàn bộ sự lười biếng ban nãy.
“Tham kiến Phán quan đại nhân.”
Tần Dạ dừng bước trước núi đồ cúng rách nát. Ngài không biểu lộ cảm xúc, chỉ dùng mũi giày gẩy nhẹ con ngựa giấy cụt chân. Con ngựa lập tức bốc cháy thành một ngọn lửa đen ngòm, hóa thành lớp tro tàn bay lả tả. Giọng nói của ngài vang lên, trầm thấp và lạnh thấu xương:
“Đây là thứ Chu Đại Hữu cúng bái tháng này sao?”
Tôi gật đầu, đáp lời với điệu bộ cẩn trọng nhất có thể:
“Bẩm đại nhân, đúng vậy. Lão ta còn đính kèm một tờ sớ dài ba thước, yêu cầu chúng ta phù hộ cho lão trúng giải độc đắc kỳ quay thưởng ngày mai. Lão hứa nếu trúng, tháng sau sẽ cúng thêm hai con gà luộc, nhưng phải là gà công nghiệp đông lạnh giảm giá tại siêu thị.”
Tần Dạ khẽ hừ lạnh. Âm thanh ấy nhẹ bẫng nhưng lại khiến không khí xung quanh tụt xuống vài độ xê. Ngài quay sang nhìn tôi, ánh mắt sắc bén như lưỡi đao lướt qua gương mặt tôi.
“Kẻ phàm phu tục tử, tham lam vô độ, lại dám khinh nhờn thần uy. Ngươi biết phải làm gì rồi chứ?”
Tôi chắp tay, ngoan ngoãn đáp lời:
“Thuộc hạ hiểu. Báo mộng cảnh cáo, để lão ta nếm trải chút cảm giác bị quỷ thần gõ cửa lúc nửa đêm. Đảm bảo ngày mai lão sẽ đem toàn bộ tiền bạc đi làm từ thiện để chuộc lỗi.”
Tần Dạ không nói thêm lời nào, chỉ khẽ gật đầu rồi quay lưng bước đi. Vạt áo đen khuất dần sau khúc quanh của dãy hành lang tĩnh mịch. Đợi bóng ngài khuất hẳn, tôi mới thở hắt ra một hơi dài, đưa tay vỗ vỗ vào lồng ngực không có nhịp đập của mình. Mao Cầu từ góc cột lăn ra, vuốt vuốt bộ ria mép, lầm bầm:
“Đại nhân lúc nào cũng dọa người. Tỷ tỷ, tỷ định làm gì lão Chu bủn xỉn kia? Biến thành quỷ dạ xoa móc tim lão hay xẻ thịt lão ra làm món xào?”
Tôi búng nhẹ vào trán con sóc đất, cười nhạt:
“Cần gì phải máu me như vậy. Đối phó với kẻ sợ chết lại mắc bệnh keo kiệt, chỉ cần đánh thẳng vào nỗi sợ tâm lý của lão là đủ. Đi thôi, chúng ta lên trần gian một chuyến.”
Màn đêm buông xuống thành phố Hàng Châu. Ánh đèn neon rực rỡ hắt lên những tòa nhà cao chọc trời, nhưng không thể xua đi cái rét mướt của tiết trời cuối thu. Khu biệt thự phía tây thành phố nằm tách biệt trên một ngọn đồi nhỏ, bao quanh bởi rừng cây nhân tạo và hệ thống an ninh nghiêm ngặt.
Phòng ngủ của Chu Đại Hữu rộng bằng cả một căn nhà cấp bốn của người bình thường. Lão ta đang nằm ngáy o o trên chiếc giường làm từ gỗ tử đàn quý giá, chăn nệm đều là lụa tơ tằm thượng hạng. Trông lão béo ịch, lớp mỡ dưới cằm xếp thành ba tầng như chiếc bánh bao chiều hôm trước bị ế, khuôn mặt bóng nhẫy toát lên vẻ thỏa mãn của một kẻ vừa chốt được một giao dịch lớn.
Tôi đứng lơ lửng giữa không trung, nhìn lão già tham lam này, trong lòng trào dâng một cảm giác chán ghét khó tả. Bàn tay tôi vung lên, một luồng sương mù xám xịt từ từ lan tỏa khắp căn phòng, kéo nhiệt độ xuống mức đóng băng. Tôi nhắm mắt lại, vận dụng Mộng Cảnh Chi Thuật, trực tiếp kéo ý thức của Chu Đại Hữu vào không gian do tôi tạo ra.
Giấc mơ bắt đầu.
Không gian sang trọng của căn phòng ngủ biến mất, thay vào đó là một khu đầm lầy hoang vu, sương mù dày đặc che khuất tầm nhìn. Nước bùn đen ngòm ngập đến đầu gối, thi thoảng sủi lên những bọt khí hôi thối. Chu Đại Hữu trong bộ đồ ngủ lụa là đắt tiền đang đứng chôn chân giữa vũng bùn, cả người run bắn lên vì cái lạnh thấu xương.
Lão đảo mắt nhìn quanh, giọng nói the thé run rẩy vang lên trong không gian tĩnh lặng:
“Có ai không? Vệ sĩ đâu? Quản gia đâu? Đây là chỗ quái quỷ nào thế này?”
Tôi không vội xuất hiện, chỉ để tiếng nước róc rách vang lên từ phía sau lưng lão. Chu Đại Hữu giật mình quay lại. Lão thấy tôi đang đứng cách đó vài bước chân.
Lúc này, tôi đã biến đổi hình dạng. Mái tóc dài đen nhánh ướt sũng nước, xõa xượi che khuất một nửa khuôn mặt. Bộ y phục trắng toát dính đầy bùn lầy, nước từ ống tay áo nhỏ giọt xuống mặt bùn tạo thành những âm thanh tong tõng rợn người. Làn da tôi tái nhợt như xác chết ngâm nước lâu ngày, đôi mắt đen láy không tròng nhìn chằm chằm vào lão.
Tôi cất giọng, âm thanh the thé và lạnh lẽo tựa như tiếng gió rít qua khe cửa vỡ:
“Chu Đại Hữu… Ngươi nợ tiền ta… Tiền giấy rách nát của ngươi, ta tiêu không được… Xuống đây bồi thường cho ta đi…”
Tôi cứ ngỡ lão sẽ sợ hãi quỳ lạy cúp đuôi như những kẻ phàm phu khác, rối rít hứa hẹn ngày mai sẽ đốt một đống tiền thật. Thế nhưng, phản ứng của lão lại hoàn toàn nằm ngoài dự tính của tôi.
Đồng tử Chu Đại Hữu co rút mạnh, hai mắt trừng lớn như muốn nứt ra khỏi hốc mắt. Toàn thân lão co rúm lại, mồ hôi lạnh vã ra như tắm. Lão chỉ tay thẳng vào mặt tôi, ngón tay mập mạp run rẩy dữ dội, giọng nói vỡ nát vì kinh hoàng tột độ:
“Tô… Tô Dao! Là cô! Cô chưa đi đầu thai sao? Cô về đòi mạng tôi sao? Không phải lỗi của tôi! Là cô tự chuốc lấy! Không liên quan đến tôi!”
Lời nói của lão như một tiếng sét nổ tung giữa đỉnh đầu tôi. Tô Dao? Lão ta vừa gọi tôi là Tô Dao?
Hàng loạt câu hỏi xẹt qua tâm trí tôi. Tại sao lão già này lại biết mặt tôi? Tại sao lão gọi tôi bằng cái tên đó? Lão nói “tự chuốc lấy” là có ý gì? Chẳng lẽ sáu mươi năm trước, cái chết của tôi có liên quan đến lão?
Cảm xúc bàng hoàng khiến tôi mất kiểm soát Mộng Cảnh Chi Thuật trong tích tắc. Lớp sương mù mờ ảo xung quanh đột ngột tan biến, để lộ ra khung cảnh đầm lầy rõ nét. Chu Đại Hữu dường như không chịu nổi đả kích tâm lý quá lớn, lão ôm chặt lấy ngực trái, thở hắt ra một tiếng khò khè đau đớn.
Trong giấc mơ, lão phun ra một ngụm máu tươi đỏ sẫm, thân hình béo ịch ngã vật xuống lớp bùn lầy. Cùng lúc đó, ở thế giới thực, cơ thể vật lý của lão trên chiếc giường tử đàn cũng co giật dữ dội, hai mắt trợn trắng, bọt mép trào ra, miệng không ngừng lảm nhảm những tiếng kêu gào điên loạn.
Sự dao động dữ dội của linh hồn Chu Đại Hữu tạo ra một lực đẩy khổng lồ, hất văng tôi ra khỏi giấc mơ của lão.
Tôi lảo đảo lùi lại mấy bước trong căn phòng ngủ sang trọng, lồng ngực phập phồng dù không hề cần dưỡng khí. Mao Cầu từ bên ngoài cửa sổ chui vào, bám lên vai tôi, lo lắng hỏi:
“Tỷ tỷ, tỷ làm quá tay rồi sao? Lão già kia điên thật rồi kìa, vệ sĩ bên ngoài đang phá cửa xông vào đấy!”
Tôi không trả lời, ánh mắt phức tạp nhìn Chu Đại Hữu đang vùng vẫy trong cơn hoảng loạn trên giường. Lão ta liên tục gào thét cái tên “Tô Dao”. Một cảm giác đau nhói bất chợt truyền đến từ nửa mảnh ngọc bội hoa sen trước ngực. Sợi dây đỏ dường như thắt chặt lại, nhắc nhở tôi về một quá khứ bị chôn vùi.
“Rút lui thôi.”
Tôi nắm lấy gáy Mao Cầu, hóa thành một luồng khói xám, biến mất khỏi căn phòng ngay trước khi đám vệ sĩ phá cửa xông vào.
Trở lại Ty Phán Quan, bầu không khí u ám quen thuộc không làm cõi lòng tôi dịu lại. Tôi ngồi thẫn thờ trên bậc thềm đá, lôi nửa mảnh ngọc bội trước ngực ra ngắm nghía. Hoa văn hình đóa sen được chạm trổ vô cùng tinh xảo, dù đã sứt mẻ nhưng vẫn toát lên vẻ thanh tao. Tô Dao. Cái tên này vang lên trong đầu tôi, mang theo một cảm giác thân thuộc đến chua xót.
Mao Cầu nhằn nốt vỏ hạt dẻ cuối cùng, lau miệng vào bộ lông mềm xèo của nó, dè dặt lên tiếng:
“Tỷ tỷ, tỷ nghĩ lão Chu nói thật sao? Tỷ thực sự tên là Tô Dao? Nhưng nếu lão nhận ra tỷ, nghĩa là lão phải biết tỷ từ khi tỷ còn sống. Lão già đó sáu mươi lăm tuổi, tỷ chết cách đây sáu mươi năm. Lúc đó lão mới là một đứa nhóc năm tuổi.”
Tôi siết chặt mảnh ngọc bội trong tay, ánh mắt trở nên kiên định:
“Ta phải tìm ra sự thật. Bất luận cái chết của ta có liên quan đến lão hay không, ta không thể tiếp tục sống vô tri vô giác như thế này. Mao Cầu, chúng ta đi kho lưu trữ.”
Mao Cầu nghe đến ba chữ “kho lưu trữ”, lông đuôi nó lập tức dựng đứng lên như bị điện giật. Nó vội vàng xua hai chân trước loạn xạ:
“Điên rồi! Tỷ điên thật rồi! Kho lưu trữ mật là khu vực cấm, chỉ có Phán quan đại nhân và các vị thần quan cấp cao mới được vào. Tỷ mà bị tóm, nhẹ thì bị đánh bằng roi đánh hồn, nặng thì đày xuống hỏa ngục làm củi đốt đấy!”
Tôi cười khẩy, xách ngược con sóc đất lên bằng một tay:
“Đệ quên rồi sao? Đêm nay là đêm rằm, Hắc Bạch Vô Thường bận rộn áp giải vong hồn trên trần gian, Tần Dạ đại nhân thì bận họp trên điện Diêm La. Kho lưu trữ lúc này là nơi an toàn nhất. Đi thôi, nếu tìm được hồ sơ sinh tử của ta, tháng sau ta sẽ mua cho đệ mười cân hạt dẻ rang bơ loại ngon nhất.”
Nghe đến hạt dẻ rang bơ, đôi mắt đen nháy của Mao Cầu sáng rực lên. Nó nuốt nước bọt, gật đầu cái rụp, nhanh chóng chuyển từ thái độ từ chối sang đồng lõa chuyên nghiệp.
Chúng tôi men theo con đường mòn phủ đầy hoa bỉ ngạn đỏ rực, lẩn tránh những toán lính canh tuần tra, tiến về phía tây của ngọn núi Hoàng Tuyền. Kho lưu trữ mật nằm sâu trong một hang động khổng lồ, cánh cửa đá nặng nề được khắc đầy những phù văn phong ấn chằng chịt.
Mao Cầu dùng móng vuốt sắc nhọn của nó lạch cạch cạy mở ổ khóa cơ quan. Một tiếng cạch khô khốc vang lên, cánh cửa đá nặng nề lùi dần về phía sau, mở ra một khe hở vừa đủ cho hai chúng tôi lách vào.
Bên trong kho lưu trữ là một không gian rộng lớn đến choáng ngợp. Hàng nghìn giá sách bằng gỗ mun cao vút lên tận trần hang, trên đó xếp kín những cuộn trúc cuộn giấy ghi chép sinh tử luân hồi của vạn vật. Ánh sáng duy nhất phát ra từ những ngọn lửa xanh lơ trôi nổi tự do trong không trung.
Tôi hít một hơi thật sâu, bắt đầu lướt dọc theo các giá sách. Hồ sơ được phân loại theo năm. Tôi tìm đến khu vực lưu trữ của sáu mươi năm trước, ánh mắt dò xét từng nhãn dán. Nơi này ghi chép toàn bộ nhân quả của cư dân Hàng Châu.
Cuối cùng, tôi dừng lại trước một ngăn tủ bám đầy bụi. Trên thẻ tre có ghi dòng chữ:
“Sông Tiền Đường – Vùng đầm lầy sương mù”.
Tim tôi khẽ đập loạn nhịp, dù tôi vốn không có tim. Tôi đưa tay định rút cuộn hồ sơ có ghi chữ “Tô Dao” ra khỏi khe gỗ.
Thế nhưng, ngay khoảnh khắc đầu ngón tay tôi chạm vào bề mặt cuộn trúc, một luồng ánh sáng vàng rực rỡ bùng lên.
Đó là một lớp phong ấn cổ xưa mang sức mạnh của thiên lôi. Luồng sức mạnh khủng khiếp bật ngược lại, hung hăng lao thẳng về phía linh hồn yếu ớt của tôi. Tôi hoảng hốt nhắm chặt mắt, biết mình không thể nào tránh kịp đòn chí mạng này.
Nhưng cơn đau đớn không ập đến.
Một bóng đen cao lớn xẹt qua trước mặt tôi. Mùi hương trầm mộc quen thuộc hòa lẫn với khí tức lạnh lẽo bao trùm lấy không gian. Tần Dạ đã xuất hiện từ lúc nào, ngài đứng chắn ngay trước mặt tôi. Bàn tay thon dài, tái nhợt của ngài vươn ra, trực tiếp tóm gọn lấy luồng ánh sáng sấm sét kia, bóp nát nó thành vô số đốm sáng li ti rơi lả tả xuống mặt đất.
Tôi mở bừng mắt, chứng kiến cảnh tượng ấy mà hồn xiêu phách lạc. Mao Cầu đã sợ đến mức chui tọt vào trong vạt áo của tôi, run bần bật.
Tần Dạ từ từ quay lưng lại. Gương mặt ngài vẫn lạnh lùng như băng ngàn năm, nhưng tôi tinh ý nhận ra một tia mệt mỏi xẹt qua đáy mắt sâu thẳm ấy. Ngài rụt bàn tay vừa cản đòn lại, giấu kín vào trong tay áo rộng.
“To gan lớn mật. Ai cho phép ngươi tự tiện đột nhập vào kho lưu trữ mật?”
Giọng nói của ngài không lớn, nhưng uy áp tỏa ra khiến hai gối tôi mềm nhũn, trực tiếp quỳ sụp xuống nền đá lạnh lẽo. Tôi cúi gầm mặt, lắp bắp:
“Đại nhân thứ tội… Thuộc hạ… thuộc hạ chỉ muốn tìm lại chút ký ức. Hôm nay lúc báo mộng, Chu Đại Hữu đã gọi tên tôi. Lão gọi tôi là Tô Dao. Tôi muốn biết năm xưa rốt cuộc mình đã chết như thế nào.”
Không gian chìm vào tĩnh lặng. Tôi không dám ngẩng đầu lên, chỉ nghe thấy tiếng hít thở dường như đang cố kìm nén một điều gì đó của ngài. Rất lâu sau, Tần Dạ mới cất giọng, âm sắc lạnh lẽo nhưng dường như chứa đựng một sự cảnh cáo sâu xa:
“Có những chuyện qua đi, tốt nhất nên để nó ngủ yên vĩnh viễn. Ngươi chỉ là một Dẫn Mộng Giả nhỏ bé, mang trong mình nhân quả chưa dứt. Tự ý điều tra quá khứ, chạm vào cấm thuật, thiên lôi không có mắt, đến lúc hồn bay phách tán, đừng trách bổn tọa không nhắc nhở.”
Ngài bước lại gần, cúi xuống nhìn thẳng vào đỉnh đầu tôi.
“Cuộn hồ sơ đó đã bị phong ấn. Ngươi không có tư cách mở nó ra. Đứng lên, quay về điện Dẫn Mộng chép phạt gia quy ba trăm lần. Đêm nay, đi tuần tra ngoại ô thành phố để chuộc tội.”
Tôi cắn chặt môi dưới, lòng đầy ấm ức nhưng không dám cãi nửa lời. Rõ ràng ngài ấy vừa cứu mạng tôi, nhưng thái độ lại vô tình đến mức tàn nhẫn. Tôi thầm nghĩ, cái đồ mặt lạnh nhà ngài, đợi đấy, tôi nhất định sẽ tự mình điều tra rõ ngọn ngành.
Tôi đứng dậy, lầm lũi quay bước ra khỏi kho lưu trữ. Trước khi bước qua cánh cửa đá, tôi bất chợt ngoái đầu nhìn lại. Tần Dạ vẫn đứng lặng yên trước giá sách, bóng lưng cao ngạo nhưng cô độc vô cùng. Ngài đang nhìn chằm chằm vào cuộn hồ sơ mang tên Tô Dao, ánh mắt phức tạp đến mức tôi không thể nào đọc hiểu.
Nửa đêm, khu vực ngoại ô Hàng Châu chìm trong màn sương mù dày đặc. Khác với sự nhộn nhịp phồn hoa nơi trung tâm, vùng ngoại ô này mang một vẻ hoang sơ, tĩnh mịch đến đáng sợ. Những rặng liễu rủ bóng xuống mặt nước đen ngòm, cành lá đong đưa theo gió tạo ra âm thanh xào xạc như tiếng người thì thầm.
Tôi xách theo chiếc đèn lồng giấy trắng, bước đi thong thả trên con đường đất nhỏ. Mao Cầu ngồi chồm hổm trên vai tôi, thỉnh thoảng lại hắt hơi vì sương lạnh. Nhiệm vụ đi tuần đêm của Dẫn Mộng Giả thực chất chỉ là dạo quanh các khu vực vắng vẻ, xem có vong hồn nào đi lạc hay oán linh nào đang quấy phá để báo cáo lên trên.
Đang đi, tôi chợt nghe thấy tiếng sủa ăng ẳng vang lên từ phía lùm cây bụi rậm.
Từ trong bụi rậm, hai cái bóng nhỏ bé nhảy bổ ra, ngáng đường tôi. Đó là A Phúc và A Lộc, cặp đôi linh hồn chó cảnh khét tiếng chuyên thu thập tin tức tình báo ở khu vực này. A Phúc là một con chó mực to lớn, bộ lông đen tuyền tiệp với màn đêm, trong khi A Lộc là một con chó vàng nhỏ nhắn, đuôi lúc nào cũng ngoáy tít. Chúng chết vì tuổi già cách đây mấy năm, nhưng vì quyến luyến trần gian nên xin ở lại làm tai mắt cho các thần sứ để tích lũy công đức.
A Lộc chạy lại gần, cọ cọ cái mõm ướt át vào chân tôi, sủa gâu gâu mấy tiếng. Tôi hiểu ngôn ngữ của linh thú, liền ngồi xổm xuống, vuốt ve bộ lông của nó:
“Có chuyện gì mà hai đứa hốt hoảng thế? Lại có lão ma men nào ngã xuống mương à?”
A Phúc đi tới, tư thế ra vẻ đường bệ, hắng giọng bằng một tiếng gầm gừ nhỏ rồi đáp:
“Tô cô nương, chuyện lớn rồi. Ở khu dân cư ổ chuột phía đông, có một cậu bé tên là Trần Tiểu Vũ, năm nay mới mười hai tuổi. Cậu bé đó đang bị hai đứa vong nhi dụ dỗ đi về phía đầm lầy sương mù.”
