Theo dõi phở để rùng mình trong đêm. Văn án:
Tôi câm từ năm bảy tuổi.
Bà ngoại nói, giọng nói của tôi là thứ có thể gọi thứ không nên gọi, nên bà phong ấn thanh mạch cho tôi bằng nén hương cuối cùng bà đốt lúc còn sống.
Mười tám năm sau, bà chết. Lư hương truyền thừa nứt một vết. Tiểu Mặc bảo, trong khói hương, nó ngửi thấy mùi oan nghiệt.
Tôi mở tiệm hương nhỏ ở đầu hẻm, bán vài nén trầm. Ai đến mua thì bán. Ai mang chuyện rắc rối đến, tôi viết trên bảng phấn:
“Một nén hương hai trăm tệ. Cháy hết thì đi về.”
Nhưng có những thứ, cháy hết rồi mà mùi vẫn không tan.
Ví dụ oán hận. Ví dụ máu người thân.
Cha tôi quỳ trước cửa tiệm, bảo con trai ông ấy sắp chết. Tôi viết cho ông một dòng:
“Ông có con trai à?”
Rồi tôi xách lư hương đi tìm kẻ đã giết bà ngoại tôi.
Mùi của Thượng Hải vào những ngày cuối thu luôn mang theo một vệt ẩm mốc hăng hắc, giống như chiếc áo dạ cũ cất kỹ dưới đáy rương lâu ngày quên mang ra phơi nắng. Nhưng bên trong tiệm Bán Dạ Hương của tôi, không khí lại khô rang, đặc quánh mùi gỗ trầm, bạch đàn, xen lẫn chút vị đắng chát của xuyên khung.
Tôi ngồi sau quầy gỗ lim, móng tay lướt qua bề mặt một khối trầm hương thô ráp, cẩn thận dùng dao gọt đi lớp vỏ sần sùi. Dao gọt trầm phải bén, tay phải vững. Lưỡi dao lướt qua, những dăm gỗ cuộn lại, rơi xuống khay đồng phát ra những tiếng lách cách vô hồn.
Hai mươi lăm năm sống trên đời, tôi dùng mười tám năm để lắng nghe sự im lặng của chính mình. Bà ngoại tôi, Tề Ngọc Lan, là Hương Sư đời thứ sáu của dòng tu hành phương Bắc. Năm tôi bảy tuổi, trong một đám tang nhà hàng xóm, tôi buột miệng hát theo tiếng kèn đám ma. Kết quả là nắp quan tài bật tung, xác chết ngồi dậy vỗ tay khen hay, còn toàn bộ họ hàng thân thích thì ngất xỉu vì âm khí tràn vào phổi. Đêm đó, bà ngoại lôi tôi về, dùng nén hương hộ mệnh quý giá nhất cắm thẳng xuống bát nhang trước ngực tôi, phong ấn thanh mạch.
Bà bảo giọng nói của tôi mang tần số gọi hồn, nếu không câm, sớm muộn gì tôi cũng gọi lên một thứ nuốt chửng cả gia tộc. Thế là tôi câm. Bù lại, khứu giác tâm linh của tôi được mở ra. Tôi ngửi được oán khí, phân biệt được tà chính, thậm chí ngửi được cả sự sống đang mục nát bên trong một cơ thể bề ngoài khỏe mạnh.
Ba năm trước, bà ngoại chết trong một vụ hỏa hoạn tại căn nhà cũ ở ngoại ô Bắc Kinh. Cảnh sát bảo do chập điện. Khám nghiệm tử thi kết luận ngạt khói. Nhưng khi tôi quỳ trước thi thể cháy đen của bà, dưới cái mùi khét lẹt của thịt da và vải vóc, tôi ngửi thấy một thứ khác. Mùi xạ hương pha lẫn trầm đen. Đó là loại hương liệu cấm kỵ, thứ mà chỉ có tà phái Miên Hương mới sử dụng để đoạt linh lực. Bà không chết vì tai nạn. Bà bị giết.
Tôi rời Bắc Kinh, chuyển đến khu phố cổ Thượng Hải, mở cái tiệm bán hương bé bằng lỗ mũi này. Vừa bán hương liệu sống qua ngày, vừa âm thầm truy tìm nguồn gốc của mùi xạ hương năm đó.
Tiếng chuông gió treo trước cửa vang lên chát chúa, cắt ngang luồng suy nghĩ. Cánh cửa gỗ bị đẩy mạnh vào trong. Gió lạnh ùa vào, mang theo mùi thuốc sát trùng bệnh viện, mùi mồ hôi lo âu, và một mùi hương ngọt ngào đến lợm giọng.
Tôi nhíu mày, đặt dao gọt trầm xuống.
Đứng trước cửa là Mạnh Khải Niên. Bác sĩ cấp cứu của bệnh viện trung tâm quận, một kẻ mang bộ não được lập trình hoàn toàn bằng khoa học thực nghiệm, nhưng lại xui xẻo mang nợ ân tình của nhà họ Hà. Hai mươi năm trước, lúc anh ta còn mặc quần thủng đáy, chính bà ngoại tôi đã dùng một nén “Tịch Tà Hương” để kéo hồn anh ta về từ tay quỷ môn quan sau một trận sốt rét ác tính.
Hôm nay, vị bác sĩ tôn thờ khoa học ấy đang bế trên tay một cô gái trẻ, sắc mặt anh ta trắng bệch, thở dốc.
“Cô Hà! Cứu người! Bệnh viện hết cách rồi!”
Anh ta đặt cô gái nằm xuống chiếc trường kỷ bằng gỗ cẩm lai giữa tiệm. Cô ta tầm hai mươi hai tuổi, mặc một chiếc váy lụa đắt tiền, nhan sắc thuộc hàng mỹ nhân, nhưng hiện tại đôi mắt nhắm nghiền, môi tím tái. Khắp người cô ta không có vết thương hở nào, máy đo nhịp tim chắc chắn sẽ báo kết quả bình thường, nhưng cô ta lại giống như một cái xác không hồn.
Tôi thong thả rút chiếc bảng phấn nhỏ giắt bên hông, cầm viên phấn trắng ném nhẹ lên không trung rồi bắt lại.
Tôi viết nhanh lên bảng, đưa ra trước mặt anh ta: *”
Tôi bán hương. Không mở trạm xá. Anh đi nhầm cửa rồi, bác sĩ Mạnh.”*
Khải Niên vuốt mặt, mồ hôi rịn ra trên trán anh ta thành từng giọt lớn.
“Dạ Sương, tôi xin cô. Cô gái này tên Tiêu Uyển. Bất tỉnh ba ngày rồi. Chụp cắt lớp, xét nghiệm máu, chọc dịch não tủy, tất cả đều âm tính. Mọi chỉ số sinh tồn hoàn hảo đến mức nực cười, nhưng não bộ không có phản ứng. Giám đốc bệnh viện đang ép khoa cấp cứu chúng tôi phải tìm ra nguyên nhân trước sáng mai, nếu không người nhà họ Tiêu sẽ đập nát bệnh viện.”
Anh ta chỉ tay vào cô gái, giọng khản đặc:
“Và cô ngửi thử xem! Cái mùi này… nó không phải mùi nước hoa bình thường. Cả phòng cấp cứu phải mở toang cửa sổ vì y tá buồn nôn khi ngửi thấy nó.”
Tôi không cần cúi xuống ngửi. Ngay từ lúc Khải Niên bước vào, cái mùi đó đã xộc thẳng vào xoang mũi tôi, hung hãn như một mũi khoan. Đó là một mùi hương ngọt gắt, giống như mùi quả đào chín nẫu trộn lẫn với xạ hương động vật, và sâu bên dưới lớp vỏ bọc ngọt ngào ấy, là mùi trầm đen bốc lên từ huyệt mộ.
Chính là nó. Mùi hương bám trên thi hài bà ngoại tôi ba năm trước.
Sắc mặt tôi lập tức lạnh đi. Tôi ném mạnh viên phấn vào hộp, bước vòng qua quầy, tiến đến bên chiếc trường kỷ. Khải Niên thấy thái độ của tôi thay đổi, vội vàng lùi lại nhường chỗ.
Tôi cúi sát mặt xuống vùng cổ của Tiêu Uyển. Làn da cô ta lạnh toát, trắng bệch, không có lấy một giọt máu. Mùi xạ hương bốc ra từ chính lỗ chân lông của cô ta, đặc quánh, tạo thành một lớp sương mờ mờ mà mắt thường không thấy được, nhưng khứu giác tâm linh của tôi thì cảm nhận vô cùng rõ rệt.
Tôi rút bảng phấn, viết một chữ thật to: *”
Mang vào phòng trong.”*
Khải Niên không dám hỏi nhiều, lập tức bế Tiêu Uyển lên, bước theo tôi qua tấm rèm vải thô bước vào gian phòng phía sau tiệm.
Phòng trong của tôi không có cửa sổ. Ánh sáng duy nhất phát ra từ ngọn nến đỏ leo lét cháy trên bàn thờ tổ nghề. Chính giữa phòng đặt một chiếc bàn gỗ vuông. Trên bàn là vật gia truyền quý giá nhất của phái Hương Sư: một chiếc lư hương bằng đồng thau chạm trổ hình chín con rồng quấn lấy nhau, thân lư có một vết nứt dài kéo từ miệng xuống đáy.
Bên trong lư hương chứa tro tàn linh lực của sáu đời Hương Sư tiền bối. Và chứa cả Tiểu Mặc.
Tôi gõ đốt ngón tay lên thành lư hương ba tiếng. Cạch. Cạch. Cạch.
Một làn khói mỏng màu xám nhạt từ từ bốc lên từ lớp tro lạnh, lượn lờ giữa không trung rồi uốn éo tạo thành hình dáng một bé trai khoảng tám tuổi, mặc áo yếm đỏ. Thằng bé không có mắt, chỉ có hai hốc đen ngòm, miệng ngoác ra cười khanh khách. Đó là oán hồn một đứa trẻ chết cháy trong lò hương cổ sáu mươi năm trước, được đời Hương Sư thứ năm thu nhận. Tiểu Mặc là hồn đồng hành của tôi, di chuyển qua khói hương, làm tai mắt cho tôi trong thế giới âm.
Khải Niên rùng mình, lùi lại đụng lưng vào tường. Dù đã từng chứng kiến năng lực của bà ngoại tôi, nhưng việc nhìn thấy một thực thể cấu tạo bằng khói đang lơ lửng giữa phòng vẫn khiến hệ thần kinh của một bác sĩ tây y bị quá tải.
Tôi không thèm đoái hoài đến sự hoảng sợ của kẻ phàm tục. Tôi mở ngăn kéo, lấy ra một nén hương màu vàng nhạt. Đây là “Hiển Hương” – một trong Cửu Vị Hương bí truyền, dùng để làm hiện hình những thứ tà môn ngoại đạo đang lẩn khuất bên trong cơ thể người.
Tôi châm lửa. Ngọn lửa liếm qua đầu nén hương, xèo xèo bốc lên một làn khói trắng ngà. Mùi thảo mộc thanh khiết lan tỏa, lập tức đè bẹp cái mùi xạ hương tởm lợm kia xuống. Tôi cắm nén hương vào chiếc bát sành nhỏ, đặt lên trán Tiêu Uyển, rồi ra hiệu cho Tiểu Mặc.
Khói khói xám của Tiểu Mặc lao vút tới, hòa quyện vào làn khói trắng của Hiển Hương, bao trùm lấy toàn bộ cơ thể cô gái đang nằm bất động.
Qua con mắt tâm linh kết nối với Tiểu Mặc, cảnh tượng dưới lớp da của Tiêu Uyển hiện ra rõ mồn một. Tôi khẽ nheo mắt, dạ dày quặn lên một trận ghê tởm.
Bên dưới lớp biểu bì trắng nõn kia, không phải là mạch máu bình thường. Hàng trăm, hàng nghìn sợi tơ mỏng như sợi tóc, màu đen ngòm, đang cắm phập vào các huyệt đạo bám dọc theo kinh mạch của cô ta. Những sợi tơ này không đứng im. Chúng đang phập phồng, co bóp giống như những con đỉa hút máu, liên tục rút lấy sinh khí màu vàng nhạt từ lục phủ ngũ tạng của Tiêu Uyển, sau đó chuyển hóa thành cái mùi xạ hương ngọt ngào kia, thoát ra ngoài qua lỗ chân lông.
Đây là tà thuật “Tầm Ti Hương” – Gieo hương vào da thịt. Kẻ thi triển thuật này dùng một loại hương liệu đặc biệt trộn lẫn với oán khí, cấy vào cơ thể nạn nhân. Nạn nhân biến thành một lò hương sống, sinh khí bị vắt kiệt từng chút một, bốc hơi ra không khí để kẻ gieo thuật hít vào bồi bổ cho bản thân. Bệnh viện làm sao tìm ra nguyên nhân, khi mà máy móc của họ không thể chụp X-quang được linh hồn đang bị ăn mòn?
Tôi gõ mạnh viên phấn lên bảng, đưa cho Khải Niên xem: *”
Cô ta bị gieo tà hương. Sinh khí đang bị rút cạn. Nếu anh mang cô ta đến muộn nửa ngày nữa, cô ta sẽ biến thành một cái xác khô, bóp nhẹ là vỡ vụn thành bụi.”*
Khải Niên nuốt nước bọt, giọng run rẩy:
“Gieo hương? Ý cô là có người cố tình làm vậy? Nhưng bằng cách nào? Cô ấy ăn phải thứ gì sao?”
Tôi lắc đầu, lười giải thích cơ chế phức tạp của giới huyền học cho một kẻ ngoại đạo. Tôi lấy từ trong rương gỗ ra một chiếc hộp gấm màu đen. Mở nắp hộp, bên trong là một nén hương màu đỏ thẫm, to bằng ngón tay cái, bề mặt thô ráp như được nặn từ cát và máu. “Đoạn Hương” – loại hương chuyên dùng để cắt đứt mọi liên kết tà ác. Chế tạo thứ này tốn của tôi nguyên một tháng trời ròng rã, nghiền nát chu sa, pha với rễ cây kim sương và mười tám loại độc thảo. Giá trị của nó không thể đo đếm bằng tiền.
Tôi nhìn Khải Niên, đưa tay ra hiệu đòi tiền.
Anh ta ngớ người mất hai giây, rồi vội vàng móc ví, rút ra một xấp nhân dân tệ dày cộp, ước chừng hai vạn, đặt lên bàn. Tôi gật đầu hài lòng, cất tiền vào túi tạp dề, sau đó châm lửa đốt Đoạn Hương.
Ngọn lửa bùng lên màu xanh thẫm. Khói bốc ra không bay lên cao mà chìm xuống, nặng nề như thủy ngân, từ từ bò lên ngực Tiêu Uyển, len lỏi qua lớp áo lụa, thấm thẳng vào da thịt cô ta.
Ngay khi khói Đoạn Hương chạm vào những sợi tơ đen bên dưới da, một tiếng rít chói tai vang lên, không phải phát ra từ miệng cô gái, mà phát ra từ chính bên trong cơ thể cô ta. Những sợi tơ đen giãy giụa điên cuồng, cố gắng bám víu lấy kinh mạch, nhưng khói đỏ của Đoạn Hương giống như những lưỡi dao sắc lẹm, chém đứt từng gốc rễ của chúng.
Cơ thể Tiêu Uyển bắt đầu co giật kịch liệt. Khải Niên định lao tới giữ cô ta lại, nhưng tôi giơ chân đạp mạnh vào đầu gối anh ta, bắt anh ta đứng lùi ra xa. Kẻ nào chạm vào nạn nhân lúc này sẽ bị tà hương cắn ngược.
Cô gái uốn cong lưng, lồng ngực gồ lên, miệng há hốc. Từ trong cổ họng cô ta phát ra những tiếng sùng sục giống như nước sôi.
Tôi ấn mạnh hai ngón tay cái vào huyệt Thiên Đột dưới cổ cô ta, ép luồng khí tà độc trào ngược lên.
“Ọc…”
Tiêu Uyển nôn thốc nôn tháo. Một bãi đờm đặc quánh, đen kịt, tanh tưởi văng ra sàn nhà bằng gạch nung. Bãi đờm đó không tan ra, mà bốc khói xèo xèo. Khải Niên trợn ngược mắt. Bác sĩ khoa cấp cứu từng thấy ruột gan phèo phổi, nhưng cảnh tượng trước mắt vượt quá giới hạn chịu đựng của anh ta. Bên trong bãi đờm nhầy nhụa kia, lổn nhổn những sợi tóc đen cuộn tròn và vô số mảnh móng tay vụn nát, bị nhai nát tươm.
Đó chính là “vật dẫn” của Tầm Ti Hương. Trộn tóc và móng tay của người chết vào hương liệu, ép nạn nhân hít vào, hoặc xông trực tiếp vào da qua lỗ chân lông.
Sau khi nôn ra thứ cặn bã đó, sắc mặt Tiêu Uyển từ từ hồng hào trở lại. Mùi xạ hương ngọt gắt trong phòng biến mất, thay vào đó là mùi tanh của máu và mùi thảo mộc cháy. Cô gái rên rỉ một tiếng, mí mắt rung rung rồi từ từ mở ra. Ánh mắt đờ đẫn, bàng hoàng.
Khải Niên vội vàng bước tới, bắt mạch cho cô ta, thở phào nhẹ nhõm.
“Nhịp tim ổn định rồi. Đồng tử phản xạ tốt. Trời đất ơi, Dạ Sương, cô vừa làm cái quái gì vậy? Thứ cô ta vừa nôn ra là cái gì?”
Tôi lấy giẻ lau sạch chỗ sàn nhà dơ bẩn, gói gọn bãi đờm vào một tờ giấy bùa rồi ném thẳng vào lò thiêu rác góc phòng. Xong xuôi, tôi mới thong thả cầm bảng phấn lên viết:
*”
Vật dẫn tà thuật. Cô ta chưa chết là do mạng lớn. Bác sĩ Mạnh, hỏi cô ta xem dạo gần đây đi đâu, làm gì, mua thứ gì đắp lên người.”*
Khải Niên quay sang Tiêu Uyển, nhẹ giọng trấn an rồi bắt đầu dò hỏi. Tiêu Uyển ôm ngực, run rẩy nhớ lại.
“Tôi… tôi không biết… Gần đây tôi chỉ đi làm đẹp. Bạn bè giới thiệu một trung tâm chăm sóc sắc đẹp mới mở tên là Vân Tức Đường. Họ có liệu trình ‘Hương Xông Ngũ Cảm’ dành cho khách quý, rất đắt tiền. Bà chủ ở đó tên là Doãn Bội San, đích thân bà ấy pha chế hương liệu xông hơi cho tôi. Bà ấy bảo xông xong da dẻ sẽ trắng hồng, cải vận đào hoa… Lần cuối cùng xông hơi, tôi ngửi thấy mùi rất ngọt, rồi ngủ thiếp đi, tỉnh dậy thì thấy mình đang ở đây.”
Tôi nghe đến cái tên Vân Tức Đường, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười mỉa mai. Đám người có tiền quả nhiên rất thích mua cái chết ngụy trang dưới lớp vỏ vinh hoa phú quý.
Khải Niên nghe xong, sắc mặt đột nhiên sầm xuống, anh ta vội vàng lấy điện thoại ra lướt tìm tài liệu.
“Vân Tức Đường… Chết tiệt! Dạ Sương, cô có biết trong sáu tháng qua, khoa cấp cứu của chúng tôi tiếp nhận bao nhiêu ca tương tự thế này không? Bảy ca! Bảy cô gái trẻ nhập viện với tình trạng suy đa tạng không rõ nguyên nhân. Toàn thân bốc mùi hương ngọt gắt. Hai người trong số đó đã tử vong tuần trước. Lúc nãy tôi không nhận ra, nhưng giờ đối chiếu lại, cả bảy người họ đều là khách hàng thân thiết của Vân Tức Đường!”
Tôi gõ phấn lách cách lên bảng: *”
Hai người chết thi thể thế nào?”*
Khải Niên rùng mình, nhớ lại báo cáo pháp y:
“Rất kỳ lạ. Bác sĩ pháp y nói cơ thể họ mất nước hoàn toàn chỉ trong vài giờ sau khi chết. Da khô quắt lại, bong tróc thành từng mảng mỏng như giấy bản. Giống như… giống như bị hun khói từ bên trong vậy. Thi thể đang được giữ dưới nhà xác bệnh viện, chờ cảnh sát điều tra.”
Tôi gật đầu. Tầm Ti Hương rút cạn sinh khí, khi nạn nhân chết, tà thuật vẫn tiếp tục vắt kiệt lượng mỡ và nước cuối cùng để duy trì mùi hương, truyền về cho kẻ chủ mưu. Kẻ tên Doãn Bội San này không chỉ hại một người, mụ ta đang mở một trang trại chăn nuôi sinh khí quy mô lớn.
Tôi viết lên bảng, đưa cho Khải Niên, nét chữ sắc lẹm: *”
Đưa tôi đến nhà xác. Ngay bây giờ.”*
Khải Niên tròn mắt:
“Nhà xác? Cô đùa à? Bây giờ là mười một giờ đêm! Quy định bệnh viện cấm người ngoài…”
Tôi lật mặt sau tấm bảng, viết đúng bốn chữ, gạch chân ba lần: *”
Một vạn tệ nữa.”*
Khải Niên cắn răng, gật đầu cái rụp. Nguyên tắc của bác sĩ rốt cuộc cũng phải cúi đầu trước sự thật tâm linh.
Hai mươi phút sau, chiếc xe hơi của Khải Niên đỗ xịch trước cổng sau bệnh viện trung tâm. Gió đêm thổi qua những tán cây ngô đồng kêu xào xạc. Bệnh viện về đêm luôn mang một luồng âm khí nặng nề, nơi giao thoa giữa sự sống và cái chết.
Chúng tôi đi cửa hông, lẻn xuống tầng hầm hai. Hành lang nhà xác vắng ngắt, ánh đèn huỳnh quang nhấp nháy liên tục phát ra những tiếng xẹt xẹt khó chịu. Nhiệt độ ở đây thấp hơn bên ngoài tận năm độ xê. Khải Niên đi trước, tay run run quẹt thẻ nhân viên mở cửa phòng bảo quản tử thi.
Cánh cửa kim loại dày cộp mở ra. Không khí lạnh lẽo phả thẳng vào mặt. Trộn lẫn trong mùi cồn sát trùng và mùi formol, khứu giác tâm linh của tôi lập tức bắt được một thứ mùi quen thuộc. Mùi xạ hương ngọt lợm giọng. Nó nồng nặc đến mức lấn át cả mùi thuốc tẩy.
Khải Niên bịt mũi, ho sặc sụa.
“Trời ạ, hệ thống thông gió hỏng rồi sao? Cái mùi này… nó bốc ra từ tủ đông số mười bốn và mười lăm. Đó là hai nạn nhân của Vân Tức Đường.”
Tôi bước tới, tự tay kéo khay kim loại số mười bốn ra ngoài.
Tiếng kim loại trượt trên đường ray vang lên chói tai. Bên trong chiếc túi đựng xác bằng nhựa đen đã kéo khóa một nửa, là một cảnh tượng khiến người ta phải mất ngủ hàng tháng trời.
Thi thể cô gái trẻ gầy rộc đi, da dẻ nhăn nheo, bám sát vào xương, có màu nâu sậm. Giống hệt như một khúc gỗ khô bị rút cạn nhựa sống. Nhưng điều kinh khủng nhất không nằm ở thị giác.
Tôi lấy nén Hiển Hương còn thừa lúc nãy, bật hộp quẹt châm lửa, hơ ngang qua miệng tử thi.
Khói trắng bốc lên, lập tức nhuốm màu đen kịt. Qua làn khói, tôi nhìn thấy rõ ràng: dù đã chết, sinh khí tàn dư dính chặt vào xương tủy của cô gái vẫn đang hóa thành những luồng tia khói xám, từ từ bốc lên không trung, xuyên qua trần nhà bê tông, bay về một hướng vô định.
Kẻ gieo thuật vẫn đang tiếp tục hút máu nạn nhân ngay cả khi họ đã nằm trong tủ đông. Lòng tham của mụ ta không có đáy.
Tôi gõ tay ba cái lên chiếc lư hương đồng mang theo bên hông. Tiểu Mặc lập tức chui ra, uốn éo giữa không trung. Tôi chỉ tay về phía luồng khói xám đang bay đi, ra hiệu cho nó bám theo. Thằng bé ma cười khúc khích, lập tức tan vào luồng khói tà ác kia, biến mất dạng.
Khải Niên đứng bên cạnh, hai chân run rẩy muốn khuỵu xuống. Anh ta nhìn tôi, rồi nhìn cái xác khô, lắp bắp:
“Bọn họ… bọn họ bị hút cái gì vậy? Cô vừa thả cái gì bay theo thế? Dạ Sương, rốt cuộc chúng ta đang đối đầu với thứ quái quỷ gì?”
Tôi không trả lời, khoanh tay dựa lưng vào bức tường ốp gạch men trắng toát, nhắm mắt chờ đợi.
Trong lúc chờ Tiểu Mặc quay về, não bộ tôi hoạt động hết công suất. Tầm Ti Hương không phải thứ tà thuật mà một bà chủ trung tâm thẩm mỹ bình thường có thể học được. Nó đòi hỏi kiến thức cực kỳ uyên thâm về dược lý và tâm linh, kết hợp với khả năng điều khiển oán khí. Trên đời này, kẻ có khả năng thấu hiểu Hương thuật đến mức độ cải biến nó thành vũ khí giết người vắt kiệt sinh khí, chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Bà ngoại tôi từng nhắc đến một người. Phương Diệc Hà. Sư tỷ đồng môn của bà, kẻ đã phản bội Hương Sư phái ba mươi năm trước vì ham muốn trường sinh bất lão bằng tà thuật “Đoạt Hương”.
Vụ án ở spa này chỉ là bề nổi. Mùi xạ hương trên người những cô gái này giống hệt mùi trên xác bà ngoại tôi. Có nghĩa là, Phương Diệc Hà đang ở đâu đó quanh đây, giật dây con rối Doãn Bội San để thu thập sinh khí, chuẩn bị cho một âm mưu lớn hơn rất nhiều. Mụ ta đã giết bà ngoại tôi để cướp bí phương Cửu Vị Hương, nhưng không tìm thấy, nên giờ mụ ta đang chuyển hướng sang tôi – truyền nhân duy nhất còn sống sót.
Nửa giờ trôi qua. Khải Niên đã ngồi bệt xuống sàn, vẻ mặt tuyệt vọng của một kẻ bị ép vứt bỏ toàn bộ thế giới quan khoa học.
Đột nhiên, nhiệt độ trong phòng giảm mạnh. Luồng khói xám từ trần nhà cuộn ngược trở lại, đáp xuống chui tọt vào lư hương của tôi. Tiểu Mặc đã về.
Tôi mở nắp lư hương, thổi nhẹ một hơi. Khói từ từ bốc lên, lượn lờ trước mặt tôi rồi bắt đầu tạo hình. Đó là cách giao tiếp của Tiểu Mặc. Sự kiểm soát khói của nó tinh tế đến mức có thể tái hiện lại chính xác những gì nó vừa nhìn thấy.
Làn khói uốn lượn, tạo thành hình ảnh một căn hầm rộng lớn, thiếu ánh sáng. Chính giữa căn hầm đặt một chiếc lư hương khổng lồ bằng đá đen. Xung quanh lư hương cắm hàng chục nén hương đang cháy rực, khói cuồn cuộn tỏa ra. Giữa làn khói đó, một người đàn bà đang ngồi khoanh chân thiền định. Khói xám khắc họa rõ khuôn mặt mụ ta: một nửa khuôn mặt trẻ trung, xinh đẹp mĩ miều, nhưng nửa còn lại thì nhăn nheo, lở loét, thịt da rữa nát lộ cả xương gò má. Mụ ta đang há miệng, hít lấy hít để luồng sinh khí màu xám bay tới từ tứ phía.
Doãn Bội San. Bà chủ của Vân Tức Đường. Mụ ta dùng sinh khí của khách hàng để duy trì nhan sắc nhân tạo của mình, nhưng tà thuật phản phệ khiến cơ thể mụ ta bắt đầu mục rữa.
Tôi xua tay, đánh tan làn khói. Mục tiêu đã rõ ràng.
Tôi lấy bảng phấn từ trong túi, viết nhanh vài dòng rồi ném cho Khải Niên.
*”
Về thôi. Bệnh viện hết việc rồi. Giữ Tiêu Uyển trong phòng hồi sức tích cực, không cho bất kỳ kẻ nào thăm nuôi. Ngày mai, tôi sẽ đích thân đến Vân Tức Đường gặp bà chủ Doãn.”*
Khải Niên đọc xong, nuốt nước bọt cái ực, lật đật theo tôi rời khỏi nhà xác.
Hai giờ sáng, tôi trở lại tiệm Bán Dạ Hương.
Khải Niên thả tôi ở đầu hẻm rồi phóng xe chạy thẳng, chắc anh ta cần về nhà uống vài viên thuốc an thần để tiêu hóa những chuyện đêm nay. Tôi lững thững đi bộ vào con hẻm tối tăm, ánh đèn đường vàng vọt hắt cái bóng dài ngoằng của tôi lên những bức tường gạch loang lổ.
Vừa bước đến trước cửa tiệm, chân tôi khựng lại.
