Theo dõi phở để rùng mình trong đêm.
Văn án:
Tôi đã sống một nghìn hai trăm năm. Nhìn vương triều khai quốc, chứng kiến đế quốc sụp đổ, xem biết bao anh hùng hào kiệt vùng vẫy sinh tử. Nhưng chưa bao giờ, chưa một lần nào, tôi thấy thứ gì kinh hoàng hơn tiền thuê nhà tháng này tăng giá. Tôi là Mạc Dư Niên. Chỉ Trát Nhân ngàn năm. Nhân viên ca đêm tiệm tiện lợi. Chuyện bắt quỷ á? Có trả thêm tiền không? Có thì tôi làm.
Ánh đèn huỳnh quang trên trần nhà nhấp nháy vài nhịp trước khi phát ra tiếng ro ro nhức óc. Tôi ngồi sau quầy thu ngân của tiệm tiện lợi Ngọn Đèn Hai Bốn Giờ, tay trái chống cằm, tay phải gõ lạch cạch lên bàn phím chiếc máy tính bỏ túi rẽ tiền mua ngoài chợ đêm. Màn hình tinh thể lỏng hiện lên một con số khiến phần hồn phách ngàn năm của tôi cũng phải chấn động.
Ba ngàn tám trăm tệ.
Đó là tiền thuê căn hộ tồi tàn nằm ở tầng bốn khu tập thể cũ kỹ phía tây thành phố. Lão chủ nhà vừa gửi tin nhắn lúc chập tối, thông báo vật giá leo thang, chi phí bảo trì đường ống nước tăng cao, nên tháng sau sẽ thu thêm ba trăm tệ. Ba trăm tệ. Bằng đúng mười lăm giờ đồng hồ tôi phải đứng chôn chân ở cái tiệm tiện lợi nặc mùi xúc xích nướng và nước lau sàn rẻ tiền này.
Tôi hít một hơi thật sâu, cố gắng đè nén xúc động muốn xé xác gã chủ nhà thành trăm mảnh. Nhưng ngẫm lại, xé xác gã thì tôi phải dọn đi, mà chi phí chuyển nhà bây giờ còn đắt đỏ hơn. Thế là tôi đành nuốt cục tức vào lòng, tiếp tục gõ máy tính, tính toán xem tháng này phải bớt ăn bao nhiêu bữa. Thực ra, tôi không cần ăn. Bọn Chỉ Trát Nhân chúng tôi, tức là những hình nhân được bồi bằng giấy trúc và hồ dán từ thời cổ đại, vốn dĩ không có dạ dày. Chúng tôi chỉ cần hít chút nhang khói hoặc hấp thụ linh khí đất trời là đủ sống.
Nhưng ngặt một nỗi, sống ở thế kỷ hai mươi mốt, bạn không thể cứ đứng giữa ngã tư đường mà hít sương đêm được. Người ta sẽ gọi xe cứu thương đưa bạn thẳng vào trại tâm thần. Để duy trì lớp vỏ bọc con người hoàn hảo, tôi phải mua sáp nến loại thượng hạng đun chảy, phủ lên lớp da giấy để chống thấm nước. Giấy mà gặp nước mưa thì nhũn ra, rách nát, lúc đó lộ nguyên hình bộ khung nan tre thì lại lên trang nhất báo mạng. Sáp nến xịn rất đắt. Quần áo cũng đắt. Tiền điện nước càng đắt. Tóm lại, cái giá của việc làm người thật sự quá cao.
Tôi liếc mắt nhìn chiếc quạt máy công nghiệp đang quay vù vù ở góc phòng. Gió thổi mạnh đến mức vạt áo đồng phục của tôi bay phần phật. Tôi ghét gió mạnh. Cơ thể tôi cực kỳ nhẹ, nếu không nhờ đôi giày độn đế giấu hai miếng chì nặng trịch bên trong, có lẽ tôi đã bị thổi bay ra tận ngoài quốc lộ. Nhưng tôi lại không thể tắt quạt, vì tôi còn ghét cái nóng ẩm ướt hơn. Hơi nước trong không khí là kẻ thù không đội trời chung của giấy.
Đồng hồ treo tường điểm một giờ bốn mươi lăm phút sáng.
Tiệm vắng ngắt. Ở dãy bàn ăn nhanh sát cửa kính, chỉ có hai sinh viên năm cuối tên Hứa Văn và Tống Giai đang cắm cúi ôn thi. Bọn họ gọi hai ly mì tôm, một chai nước tăng lực, ngồi lỳ ở đó từ mười giờ tối đến giờ. Tống Giai vò đầu bứt tai, lẩm bẩm đọc thuộc lòng mấy công thức tài chính dài ngoằng, trong khi Hứa Văn gục đầu xuống bàn, ngáy khe khẽ.
Bên ngoài sảnh, tiếng ngáy của Vương Khoan vang lên đều đều, thi thoảng xen lẫn tiếng chép miệng. Ông già bảo vệ này là một sự tồn tại vô dụng bậc nhất mà tôi từng biết. Ngoại hình khoảng năm mươi lăm tuổi, bụng phệ, mặc bộ đồng phục bảo vệ nhăn nhúm lúc nào cũng sực mùi rượu đế rẻ tiền. Nhiệm vụ của ông ta là trông coi an ninh cho cả tòa nhà thương mại cũ kỹ này, nhưng mười ngày thì hết chín ngày rưỡi ông ta ngủ gục trên chiếc ghế mây ngoài sảnh. Tháng trước có vụ trộm vặt bẻ gương xe đạp, ông già vẫn ngủ say như chết. Tôi không hiểu sao ban quản lý chưa đuổi việc ông ta. Chắc vì lương quá bèo bọt, không ai thèm làm.
Cửa kính tự động trượt mở, chuông báo khách vang lên một tiếng bíp khô khốc.
Một luồng gió lạnh từ con hẻm tối ùa vào, mang theo mùi ngai ngái của rêu phong và đất ẩm. Tôi ngẩng đầu lên. Đúng một giờ năm mươi phút sáng. Khách hàng quen thuộc nhất ca trực của tôi đã xuất hiện.
Lâm Ý Ý bước vào, cẩn thận rũ chiếc ô trong suốt đọng vài giọt sương đêm, đặt vào giá để ô cạnh cửa. Cô bé mặc chiếc áo khoác len màu be quá khổ, mái tóc cắt ngắn ngang vai hơi rối, trên mũi đeo cặp kính gọng tròn to bản. Ý Ý đi thẳng đến quầy bánh ngọt, nhón lấy một ổ bánh mì vị dưa gang, sau đó vòng qua tủ mát lấy một hộp sữa tươi nguyên chất. Động tác thuần thục, không dư thừa một giây.
Cô bé mang đồ đến quầy, đặt nhẹ nhàng xuống mặt kính.
“Chị tính tiền giúp em.”
Giọng Ý Ý trong trẻo, mang theo chút rụt rè đặc trưng của những nữ sinh viên năm nhất sống nội tâm.
Tôi cầm máy quét mã vạch, bấm tít tít hai tiếng.
“Mười hai tệ rưỡi. Quét mã hay tiền mặt?”
“Dạ quét mã ạ.”
Ý Ý đưa điện thoại ra. Tôi liếc nhìn màn hình, thao tác trừ tiền hoàn tất. Cô bé ôm chiếc bánh mì và hộp sữa, khẽ gật đầu chào tôi rồi lững thững bước ra một góc bàn trống, cắm tai nghe vào, bắt đầu lật sách ra đọc.
Tôi nhìn theo bóng lưng nhỏ nhắn ấy, ánh mắt không kìm được mà dừng lại lâu hơn một chút.
Cô bé bánh mì này, dĩ nhiên không biết tôi là ai. Nhưng tôi thì biết rõ gốc gác của cô ấy tận một nghìn hai trăm năm trước. Triều đại nhà Đường, năm đó dịch bệnh hoành hành khắp chốn. Tôi vốn dĩ là một thiếu nữ tên Mạc Dư Niên, con gái nhà họ Mạc quyền quý, chuẩn bị xuất giá thì gục ngã vì bạo bệnh. Gia đình nhà trai vì muốn hoàn tất hôn lễ để củng cố quyền lực, đã thuê một xưởng thủ công làm ra một hình nhân giấy thay thế tôi bái đường.
Người làm ra hình nhân đó, chính là một cô bé học việc chưa đầy mười lăm tuổi. Trong đêm tối leo lét ánh đèn dầu, cô bé ấy đã tỉ mỉ vót từng thanh tre, dán từng lớp giấy trúc, vẽ lên khuôn mặt hình nhân một nụ cười dịu dàng nhất. Vừa làm, cô bé vừa rơi nước mắt, thành tâm chắp tay cầu nguyện cho vong hồn Dư Niên được siêu thoát, không phải chịu cảnh lạnh lẽo chốn âm tào.
Chút tâm niệm chân thành, trong sáng đến vô ngần ấy, cộng với linh khí mỏng manh của đất trời vương lại trên những trang giấy trúc, đã tạo ra một kỳ tích. Hình nhân giấy đó mở mắt. Nó có nhận thức. Có ký ức của Mạc Dư Niên, nhưng lại mang sinh mệnh do cô bé nghệ nhân ban tặng.
Đó chính là tôi.
Suốt mười hai thế kỷ qua, tôi lang bạt khắp nhân gian, nhìn thời thế đổi thay, xem con người sinh lão bệnh tử. Tôi lấy họ Mạc, cái họ mang hàm ý “chẳng có gì cả”, để nhắc nhở bản thân rằng mình chỉ là một mảnh giấy vô tri mượn xác hoàn hồn, đừng bao giờ sinh lòng tham vọng sống như một con người thực thụ. Nhưng tôi vẫn luôn âm thầm tìm kiếm chuyển kiếp của cô bé nghệ nhân năm xưa. Đời này qua đời khác, tôi đứng trong bóng tối, nhìn cô ấy luân hồi. Kiếp này, cô ấy tên Lâm Ý Ý, mười chín tuổi, sinh viên khoa thiết kế đồ họa.
Tôi chưa bao giờ tỏ ra thân thiết với cô ấy. Bản tính của tôi vốn dĩ thực dụng và lạnh nhạt. Tôi chỉ nhận công việc ở cái tiệm tiện lợi rách nát này vì nó nằm ngay dưới khu trọ của Ý Ý, tiện cho việc quan sát. Thế thôi.
Tiếng chuông cửa lại vang lên, cắt đứt dòng hồi tưởng mốc meo của tôi.
Một thanh niên cao gầy bước vào. Áo măng tô đen dài đến gối, quần âu cắt may vừa vặn, gương mặt điển trai nhưng nhợt nhạt, toát lên vẻ thư sinh mệt mỏi. Trần Dạ Hành. Hai mươi hai tuổi. Sinh viên trường kiến trúc đối diện.
Cậu ta không nhìn ai, đi thẳng đến máy pha cà phê tự động ở góc tiệm, bấm chọn một ly cà phê đen không đường. Chờ chất lỏng đen ngòm chảy đầy ly giấy, cậu ta mang đến quầy thu ngân, đặt cạch xuống bàn.
Sau đó, Dạ Hành rút từ trong ví ra một đồng xu mười tệ và vài đồng tiền lẻ, xếp ngay ngắn thành một cọc nhỏ.
“Gửi chị Mạc.”
Cậu ta mỉm cười. Một nụ cười lịch sự, ấm áp, hoàn hảo đến mức không tìm ra điểm chê trách. Nhưng chẳng hiểu sao, mỗi lần nhìn thấy nụ cười ấy, lớp sáp nến trên da tôi lại có cảm giác râm ran lạnh lẽo.
Tôi quét mã ly cà phê, thu dọn đống tiền xu ném vào ngăn kéo.
“Hôm nay lại thức trắng à, thằng nhóc cà phê đen?”
Dạ Hành khẽ gật đầu, bưng ly cà phê nóng hổi đi về phía góc khuất nhất của tiệm, ngồi quay lưng lại với cửa sổ. Cứ cách hai giờ đồng hồ, cậu ta lại đến mua một ly cà phê đen. Không bao giờ dùng thanh toán di động, chỉ trả bằng tiền mặt. Một thói quen kỳ lạ trong cái thời đại mà đến bà lão bán mớ rau ngoài chợ cũng in mã quét thanh toán to tướng treo trước ngực.
Nhưng tôi không quan tâm. Đối với tôi, Trần Dạ Hành là một khách hàng tốt. Mua đồ đều đặn, không mặc cả, không làm ồn, không gây rắc rối. Những kẻ tiêu tiền sòng phẳng luôn đáng được tôn trọng.
Bầu không khí trong tiệm trở lại vẻ tĩnh lặng vốn có. Hứa Văn và Tống Giai thầm thì giải bài tập. Ý Ý nhai từng miếng bánh mì nhỏ xíu, mắt dán vào màn hình máy tính bảng. Dạ Hành nhấp ngụm cà phê, lật lật vài bản vẽ nháp. Tôi lôi cuốn sổ tay bìa da cũ mèm ra, bắt đầu tính toán xem nếu nhận thêm việc phát tờ rơi buổi sáng thì sẽ kiếm thêm được bao nhiêu. Đây đã là công việc thứ ba của tôi trong tuần này, nhưng tiền thì dường như chưa bao giờ là đủ.
Kim đồng hồ nhích dần. Hai giờ mười lăm phút sáng.
Đột nhiên, bóng đèn huỳnh quang trên trần nhà chớp tắt liên tục ba lần, rồi ánh sáng nhạt hẳn đi, chuyển sang một màu vàng ệch như màu của những tờ giấy tiền vàng mã đốt dở.
Nhiệt độ trong phòng giảm đột ngột. Không phải cái lạnh của máy điều hòa, mà là một thứ hơi lạnh buốt thấu xương, ẩm ướt, nhớp nháp, như thể có ai đó vừa bưng một tảng băng từ dưới mồ lên đặt giữa sàn nhà. Tôi nhíu mày, vội vàng kéo cổ áo đồng phục lên cao. Giấy kỵ nước. Cái thứ không khí ẩm thấp này làm tôi ngứa ngáy khắp toàn thân.
Và rồi, âm thanh đó xuất hiện.
Từ bên dưới lớp gạch men tráng men rẻ tiền của sàn nhà, một giai điệu vang lên. Nó nhỏ xíu, mỏng manh, nhưng lại sắc nhọn như một cây kim đâm thẳng vào màng nhĩ.
Ting… ting… ting…
Là tiếng nhạc hộp. Giai điệu bài hát thiếu nhi quen thuộc, ngôi sao nhỏ lấp lánh, nhưng nhịp điệu lại chậm chạp một cách quái đản. Từng nốt nhạc kéo dài lê thê, méo mó, rè rè như một cuốn băng cassette bị kẹt trong đầu đĩa cũ kĩ.
Ting… ting… ting…
Cả không gian dường như đông cứng lại.
Tống Giai đang cầm bút bi, bàn tay bỗng run lên bần bật. Cậu ta ngẩng phắt đầu lên, dòm ngó xung quanh, khuôn mặt tái mét. Hứa Văn cũng bị đánh thức, ngơ ngác dụi mắt, hai hàm răng đánh bò cạp vào nhau lập cập.
“Mày… mày có nghe thấy gì không?”
Tống Giai thì thào, giọng nghẹn lại nơi cổ họng.
Hứa Văn nuốt nước bọt, gật đầu liên lịa.
Ở góc bên kia, Lâm Ý Ý dừng hẳn việc nhai bánh mì. Cô bé gỡ một bên tai nghe ra, đôi mắt mở to đầy hoang mang, nhìn chằm chằm xuống mặt sàn dưới chân mình.
Chỉ có một người duy nhất không phản ứng. Trần Dạ Hành. Cậu ta thản nhiên lôi từ trong túi áo khoác ra một cặp tai nghe chống ồn loại xịn, nhét chặt vào tai, rồi tiếp tục cắm cúi vẽ vời như thể thế giới xung quanh đã hoàn toàn tuyệt giao. Hành động này lọt vào mắt tôi, rành rọt từng chi tiết. Một kẻ bình thường khi nghe thấy âm thanh kỳ lạ giữa đêm khuya, phản xạ tự nhiên là tìm kiếm nguồn phát, hoặc chí ít cũng phải tò mò nhìn quanh. Nhưng thằng nhóc này lại chọn cách bịt tai lại ngay lập tức. Cứ như thể, cậu ta đã biết trước âm thanh đó sẽ vang lên, và cậu ta cần phải chặn nó lại để bảo vệ chính mình.
Rất đáng ngờ.
Tôi gõ nhịp ngón tay lên mặt bàn kính. Âm thanh này không phát ra từ loa phường hay điện thoại của ai đó. Nó phát ra từ tầng hầm.
Tòa nhà thương mại này được xây dựng vào cuối những năm chín mươi. Trước đó, nơi đây từng là một khu đất hoang, bên trên có một ngôi miếu Thổ Địa nhỏ nhắn nhưng nhang khói rất sầm uất. Khi quy hoạch đô thị dội xuống, đội thi công đã san phẳng ngôi miếu bằng xe ủi đất mà không thèm làm lễ di dời. Những người thợ xây ngày đó kể lại rằng, khi đào móng làm tầng hầm, họ phát hiện ra vô số những hũ sành vỡ nát chôn sâu dưới lòng đất, toát ra mùi hôi thối kinh tởm. Vài người thợ sau đó bị ốm liệt giường, chủ thầu sợ hãi vội vàng đổ bê tông lấp kín toàn bộ khu vực đó lại. Tầng hầm của tòa nhà bị niêm phong vĩnh viễn từ ngày cắt băng khánh thành cho đến tận bây giờ.
Cái tiệm tiện lợi này nằm ngay trên nắp của tầng hầm đó.
Khí tức âm hàn bốc lên mỗi lúc một đậm đặc. Với tư cách là một sinh vật tồn tại hơn một ngàn năm, tôi quá quen thuộc với mùi vị này. Đây không phải là tà khí của những linh hồn vất vưởng thông thường. Nó đặc quánh, tanh tưởi, mang theo một sự oán hận cổ xưa, thèm khát máu thịt người sống.
Giai điệu nhạc hộp kéo dài đúng năm phút thì đột ngột im bặt.
Ánh đèn huỳnh quang sáng bừng trở lại. Hơi lạnh tan biến, nhường chỗ cho cái nóng oi bức của đêm mùa hè.
Tống Giai và Hứa Văn không nói với nhau câu nào, vội vã gom sách vở nhét vào balo, bỏ lại hai ly mì ăn dở, cắm cổ chạy thục mạng ra khỏi cửa. Ý Ý cũng vội vàng thu dọn đồ đạc, bước chân có phần lảo đảo, luống cuống đẩy cửa bước ra ngoài bóng tối.
Trong tiệm chỉ còn lại tôi, tiếng ngáy của lão bảo vệ Vương Khoan ngoài sảnh, và Trần Dạ Hành vẫn kiên nhẫn ngồi nhấp ngụm cà phê cuối cùng.
Tôi nhìn chằm chằm xuống sàn gạch. Có thứ gì đó đang thức giấc bên dưới. Nhưng miễn là nó không đập vỡ tủ kính hay cướp quầy thu ngân, tôi cũng chẳng buồn bận tâm. Tôi là nhân viên bán hàng, không phải đạo sĩ trừ tà làm việc thiện nguyện.
Sáng hôm sau, lúc giao ca, tôi nhận được tin tức.
Hứa Văn và Tống Giai không về ký túc xá. Điện thoại tắt máy. Bạn bè, thầy cô không ai liên lạc được. Bọn họ bốc hơi khỏi thế gian này, ngay sau khi bước ra khỏi cửa tiệm tiện lợi của tôi.
Đây không phải lần đầu tiên. Hai tháng qua, đã có hai cặp sinh viên mất tích theo cách tương tự. Điểm chung duy nhất của họ: đều là những cú đêm thích ra tiệm Ngọn Đèn Hai Bốn Giờ ngồi học bài. Cảnh sát đã đến điều tra, trích xuất camera an ninh, nhưng chỉ thấy hình ảnh họ bước ra khỏi cửa tiệm rồi đi vào con hẻm khuất bóng đèn đường, sau đó màn hình chỉ còn lại một màu đen đặc. Không dấu vết xô xát, không manh mối hung thủ.
Sự việc này khiến doanh thu của tiệm sụt giảm thê thảm. Sinh viên quanh khu vực bắt đầu rỉ tai nhau về lời nguyền của ngôi miếu Thổ Địa cũ, chẳng ai dám bén mảng đến mua đồ sau mười giờ đêm nữa.
Tám giờ sáng, tôi đang thay đồng phục chuẩn bị về nhà ngủ bù, thì tên quản lý bụng bự hớt hải chạy đến, mồ hôi nhễ nhại. Gã chốt cửa phòng kho lại, nhìn tôi bằng ánh mắt cầu khẩn.
“Tiểu Mạc, cô làm ở đây lâu nhất, lá gan cũng lớn nhất. Chuyện mất tích này… đồn đại ầm ĩ quá rồi. Chủ tịch tập đoàn dọa nếu tháng này doanh thu không phục hồi, sẽ đóng cửa tiệm cắt chức tôi!”
Tôi vừa cài khuy áo khoác, vừa hờ hững đáp lời.
“Thì anh đi báo cảnh sát đi. Kể lể với tôi làm gì? Tôi chỉ là nhân viên tính tiền, một giờ hai mươi tệ, không bao gồm dịch vụ thám tử tư.”
Gã quản lý đập tay lên trán, cắn răng đưa ra một con số.
“Cô giúp tôi tìm hiểu xem rốt cuộc ban đêm ở đây có cái thứ quỷ quái gì đang giở trò. Chỉ cần tìm ra nguyên nhân, tôi thưởng nóng cho cô ba tháng lương! Ba tháng, tiền mặt, không trừ thuế!”
Bàn tay đang cài khuy áo của tôi khựng lại. Ba tháng lương. Tương đương với gần mười lăm ngàn tệ. Đủ để tôi trả khoản tiền thuê nhà chết tiệt vừa tăng giá, mua thêm hai thùng sáp nến thượng hạng, và có thể dư dả sống thoải mái qua hết mùa đông năm nay mà không sợ bị mốc meo.
Tôi chậm rãi rút điện thoại từ trong túi quần ra, bật ứng dụng ghi âm, đưa sát vào miệng gã quản lý.
“Anh lặp lại lần nữa xem nào. Đọc rõ họ tên, số chứng minh thư, và cam kết trả ba tháng lương. Nói to rõ ràng vào.”
Gã quản lý ngớ người, nhưng rồi cũng ngoan ngoãn đọc lại toàn bộ lời hứa hẹn vào máy ghi âm.
Tôi bấm lưu file, cất điện thoại đi, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười cực kỳ công nghiệp.
“Được rồi. Tối nay tôi sẽ tăng ca. Nhưng nhớ đấy, nếu tôi giải quyết xong mà anh dám quỵt tiền, tôi sẽ đem anh đi dán làm hình nhân thế mạng đốt xuống âm phủ.”
Gã quản lý rùng mình một cái, gượng cười gật đầu lia lịa. Gã tưởng tôi đùa. Nhưng tôi nói thật. Mười lăm ngàn tệ đối với tôi còn quý hơn cả sinh mạng, vì tôi vốn dĩ làm gì có sinh mạng để mà mất.
Đêm hôm đó, tôi đến tiệm sớm hơn thường lệ.
Bên ngoài trời đổ mưa lất phất. Không khí ẩm ướt khiến các khớp nối bằng nan tre dưới lớp da giấy của tôi kêu cọt kẹt mỗi khi cử động. Tôi ghét thời tiết này.
Tôi đeo chiếc tạp dề màu xanh lá cây của cửa hàng, nhưng bên trong chiếc túi căng phồng phía trước lại chứa những thứ đồ nghề không hề liên quan đến việc bán lẻ. Một chiếc máy quét mã vạch không dây, loại đắt tiền, đã được tôi tự tay tháo tung ra và cải tiến lại mạch điện bên trong. Tôi từng tốn hai tháng rưỡi tiền lương để thuê một gã thợ sửa điện tử mù dở ở khu ổ chuột độ lại con chip hồng ngoại của nó. Bây giờ, tia sáng đỏ bầm mà nó bắn ra không chỉ đọc được mã vạch của gói mì tôm, mà còn quét được nồng độ âm khí, phân loại được nguồn gốc của thực thể siêu nhiên dựa trên bước sóng năng lượng.
Thứ hai, là một chiếc máy in hóa đơn nhiệt cầm tay. Bên trong lắp sẵn một cuộn giấy nhiệt loại dày dặn nhất. Khác với những đạo sĩ truyền thống thích dùng chu sa và bút lông vẽ bùa lên giấy vàng, tôi thấy cách đó quá thủ công và mất thời gian. Tôi đã thuê một vị pháp sư già sắp giải nghệ, dùng máy tính chuyển hóa toàn bộ các loại bùa chú trấn yểm, phong ấn cổ đại thành chuỗi ký tự Unicode phức tạp. Tôi lưu các chuỗi mã đó vào bộ nhớ của máy in. Chỉ cần bấm nút, máy sẽ in ra một tờ hóa đơn dài ngoằng chứa đầy ký tự bùa chú. Xé ra dán lên trán quỷ, hiệu quả không kém gì bùa xịn, lại còn có thể sản xuất hàng loạt với tốc độ ánh sáng. Tư duy công nghiệp hóa cần phải được áp dụng vào cả thế giới tâm linh.
Đúng mười hai giờ đêm, tiệm vắng tanh. Không có lấy một mống khách.
Vương Khoan vẫn nằm gáy pho pho trên chiếc ghế mây ngoài sảnh, tiếng ngáy vang rền như sấm động, hoàn toàn vô dụng trước bầu không khí u ám đang dần bao trùm lấy tòa nhà.
Cửa kính trượt mở. Tôi ngạc nhiên ngước lên.
Trần Dạ Hành bước vào, rũ chiếc ô đen ướt sũng. Cậu ta vẫn mặc chiếc áo măng tô dài, khuôn mặt nhợt nhạt nở nụ cười hiền lành.
“Chị Mạc, cho em một ly đen nóng. Trưa nay em ngủ nhiều quá, đêm nay định ngồi lại vẽ cho xong đồ án.”
Tôi nheo mắt nhìn cậu ta. Trong cái đêm mà bão táp sắp ập đến, khi mà mọi sinh viên khác đều sợ hãi trốn rịt trong phòng, thằng nhóc này lại chủ động mò đến đây. Lại còn chọn đúng cái góc khuất nhất, sát với vị trí của tầng hầm bên dưới.
“Cậu không sợ bị bắt cóc à? Mấy đứa ngồi góc đó hôm qua đều bốc hơi hết rồi đấy.”
Tôi vừa bấm máy pha cà phê, vừa buông một câu thăm dò.
Dạ Hành đón lấy ly giấy, mỉm cười nhã nhặn.
“Em không tin vào mấy chuyện ma quỷ. Với lại, ngồi đây yên tĩnh, dễ tập trung hơn. Chị Mạc không sợ, sao em phải sợ?”
Tôi nhún vai, thu mười tệ tiền xu của cậu ta.
Một rưỡi sáng. Mọi thứ vẫn tĩnh lặng.
Cánh cửa kính lại mở ra một lần nữa. Lần này, người bước vào khiến tôi phải nhíu mày thật chặt.
Lâm Ý Ý. Cô bé chạy xộc vào trong, mái tóc ướt sũng nước mưa bết vào trán, hơi thở gấp gáp.
“Chị Niên… hôm qua em để quên cái ví tiền màu hồng trên bàn… chị có thấy không ạ?”
Tôi lục ngăn kéo dưới gầm quầy, lôi ra chiếc ví đưa cho cô bé.
“Lấy rồi thì mau về đi. Đêm nay ở đây không an toàn đâu.”
Tôi hất cằm ra phía cửa.
Ý Ý gật đầu rối rít, ôm chiếc ví định quay lưng bước đi.
Nhưng muộn mất rồi.
Đèn neon bảng hiệu chữ OPEN HAI BỐN GIỜ treo trên tường đột ngột tắt phụt, rồi bắt đầu nhấp nháy liên hồi theo một nhịp điệu quái gở.
Không khí trong tiệm lập tức sụt xuống mức đóng băng. Hơi lạnh từ dưới lòng đất bốc lên ngùn ngụt, mang theo mùi của bùn lầy và máu thối.
Ting… ting… ting…
Tiếng nhạc hộp lại vang lên. Lần này, nó không còn mỏng manh nữa. Nó rõ mồn một, đập thẳng vào màng nhĩ, chói tai và méo mó đến cực điểm. Giai điệu bài hát thiếu nhi bị vặn xoắn lại, nghe như tiếng khóc than của hàng chục đứa trẻ bị nhốt trong một chiếc hộp sắt kín bưng.
Ý Ý giật thót mình, đánh rơi chiếc ví xuống đất. Cô bé lùi lại vài bước, định lao ra khỏi cửa.
Nhưng cánh cửa kính tự động đã kẹt cứng.
Ý Ý dùng hết sức đẩy mạnh, nhưng lớp kính cường lực không hề nhúc nhích. Bên ngoài lớp kính, cảnh vật con đường quen thuộc đã biến mất. Chỉ còn lại một màn sương mù đặc quánh, đen kịt, cuộn xoáy như những xúc tu khổng lồ.
