Theo dõi phở để rùng mình trong đêm. Văn án: Hồi Xuân Đường, y quán cổ trăm năm, bách bệnh giai tiêu, vạn người xếp hàng cầu một liều thuốc cải tử hoàn sinh. Nhưng Lục Yến Thanh biết, trên đời này không có thuốc miễn phí, cũng không có phép màu không tính lãi. Khi viên thuốc biết khóc, khi hương trầm có mùi máu, khi thần y mỉm cười từ bi hơn cả Phật, thì đó là lúc nên bỏ chạy. Tiếc là cô không chạy. Cô mở hóa đơn.
Ánh đèn huỳnh quang trên trần nhà nhấp nháy vài nhịp rồi tắt hẳn, trả lại căn phòng trọ hai mươi mét vuông cho bóng tối ẩm mốc. Tôi ngồi khoanh chân trên chiếc nệm cũ, tay bưng bát mì tôm đã nguội ngắt, ánh mắt dán chặt vào bức tường đối diện. Nơi đó không treo tranh phong cảnh, cũng chẳng dán ảnh thần tượng. Nó được dán kín bằng hàng chục tờ giấy nợ. Tiền thuê nhà, tiền điện nước, tiền mua chu sa, tiền nhập bùa vàng, và một khoản nợ khổng lồ vay nặng lãi mà ông sư phụ kính yêu của tôi đã để lại trước khi bốc hơi khỏi thế gian.
Trước khi đi, ông lão lập dị ấy chỉ để lại cho tôi một thân đạo thuật, một đôi Âm Dương Nhãn có thể nhìn thấu hai cõi sống chết, và một tờ giấy nhớ dán trên cánh cửa tủ lạnh trống rỗng:
“Kiếm tiền sạch, chết cũng sạch.”
Tôi húp nốt ngụm nước dùng mặn chát, ném cái bát nhựa vào thùng rác.
Vừa mới một giờ trước, tôi vừa hoàn thành một ca trừ tà cấp tốc cho một quán lẩu dưới phố. Chủ quán gọi điện khóc lóc ỉ ôi, bảo rằng dạo này khách hàng liên tục phàn nàn vì cứ ăn lẩu là nghe thấy tiếng phụ nữ rên rỉ phát ra từ nồi nước dùng. Bọn họ đồn quán lẩu nấu thịt người. Tôi xách la bàn đến, lật tung cái bếp lên, cuối cùng phát hiện ra đường ống nước thải bị nứt, gió lùa qua khe hở cộng hưởng với tiếng nước chảy tạo ra âm thanh ỉ ôi. Tôi bò dưới gầm bồn rửa bát ba mươi phút để trét keo dán ống nước, sau đó dán thêm một đạo bùa bình an lên cửa bếp, dõng dạc thu của ông chủ năm nghìn tệ phí dịch vụ giải trừ oán khí cấp độ ba.
Đừng trách tôi lừa đảo. Bùa bình an của tôi là hàng thật giá thật, còn công sức trét ống nước của một sinh viên y khoa năm ba kiêm đạo sĩ bắt ma chuyên nghiệp thì không thể rẻ được. Sư phụ dạy tôi không được kiếm tiền trên mạng sống người vô tội, chứ không cấm tôi thu phí an tâm của mấy kẻ yếu bóng vía.
Đúng lúc tôi đang nhẩm tính xem năm nghìn tệ này đủ mua bao nhiêu thùng mì tôm, thì màn hình điện thoại chợt sáng lên.
Một dãy số lạ gọi đến. Tôi xoa xoa thái dương, ấn nút nghe. Đầu dây bên kia im lặng mất vài giây, chỉ có tiếng hít thở dồn dập, run rẩy.
“Xin hỏi… có phải Lục cô nương không? Tôi được một người quen giới thiệu…”
Giọng nói của một phụ nữ, nghe rất êm tai nhưng lại mang theo sự kìm nén đến cùng cực. Tôi nhíu mày, đổi tư thế ngồi thẳng lưng hơn.
“Là tôi. Khuya khoắt thế này, phu nhân muốn xem phong thủy âm trạch hay bắt quỷ trừ tà? Bảng giá của tôi rất rõ ràng, không mặc cả, không cho nợ.”
Người phụ nữ không trả lời. Vài giây sau, điện thoại của tôi rung lên một tiếng bíp. Một tin nhắn từ ngân hàng báo về. Tôi liếc mắt nhìn màn hình, đồng tử lập tức co rút lại. Mười vạn nhân dân tệ. Chuyển khoản trực tiếp, không cần hỏi han, không cần mặc cả. Cơn buồn ngủ của tôi lập tức bay sạch không còn một mảnh.
“Được rồi phu nhân, với số tiền cọc này thì dù là Diêm Vương đích thân gõ cửa nhà chị, tôi cũng bảo ông ấy ra ngoài xếp hàng đợi tôi viết hóa đơn đã. Chị đang ở đâu?”
Nửa giờ sau, tôi ngồi trong một phòng trà tư nhân sang trọng bậc nhất Thâm Quyến, nơi mà chỉ riêng mùi hương trầm đốt ngoài sảnh chờ cũng đủ bằng tiền ăn một tháng của tôi. Người phụ nữ ngồi đối diện tôi là Tề Gia Nghiên, phu nhân của tổng giám đốc tập đoàn dược phẩm Tề gia lừng lẫy. Chị ta mặc một chiếc váy lụa đắt tiền, tóc búi cao gọn gàng, nhưng quầng thâm dưới mắt và làn da tái nhợt đã tố cáo một tinh thần đang đứng trên bờ vực sụp đổ.
Tề Gia Nghiên đẩy một tách trà Long Tỉnh về phía tôi, đôi tay đeo nhẫn ngọc bích khẽ bấu chặt vào mép bàn.
“Lục cô nương, chuyện tôi sắp kể ra đây, cô nhất định phải giữ bí mật. Cổ phiếu của Tề gia không thể chịu thêm bất kỳ đả kích nào nữa.”
Tôi nhấp một ngụm trà, cảm nhận vị chát ngọt lan tỏa nơi đầu lưỡi, bình thản đáp lời.
“Chị Nghiên, tôi là người làm ăn. Tiền vào túi tôi thì bí mật của chị sẽ đi xuống mồ cùng tôi. Cứ nói thẳng vào vấn đề đi.”
Gia Nghiên hít một hơi thật sâu, ánh mắt lộ ra vẻ kinh hoàng không che giấu nổi. Chồng của chị ta, Tề Quang Huy, tổng giám đốc tập đoàn, nửa năm trước được chẩn đoán mắc ung thư tuyến tụy giai đoạn cuối. Bệnh viện hàng đầu Bắc Kinh và Thượng Hải đều lắc đầu trả về, bảo gia đình chuẩn bị hậu sự. Giữa lúc tuyệt vọng nhất, gia đình họ Tề tìm đến Hồi Xuân Đường, một y quán cổ có tuổi đời hàng trăm năm nằm ở ngoại ô thành phố, nơi được đồn đại là có thần y cái thế, chuyên chữa những ca bệnh mười phần chết chín.
“Người đứng đầu Hồi Xuân Đường là Mạc Trường Sinh.”
Gia Nghiên cắn môi, giọng bắt đầu lạc đi.
“Ông ta bắt mạch cho Quang Huy, chỉ cười nhạt rồi bảo bệnh này chữa được. Ông ta yêu cầu chồng tôi ở lại y quán ba tuần. Mỗi ngày đều nằm trong một căn phòng kín, đốt một loại hương gọi là Phản Lão Hương, và uống một viên thuốc hoàn màu đen nhánh.”
Tôi gõ gõ ngón tay lên mặt bàn bằng gỗ lim, ra hiệu cho chị ta kể tiếp.
Kỳ tích thực sự đã xảy ra. Sau đúng ba tuần, Tề Quang Huy bước ra khỏi Hồi Xuân Đường như một người hoàn toàn khác. Kết quả chụp chiếu tại bệnh viện cho thấy toàn bộ tế bào ung thư đã biến mất sạch sẽ. Không những thế, là da nhăn nheo xám xịt của người bệnh cũng hồng hào trở lại, mái tóc lốm đốm bạc đen nhánh như thanh niên. Anh ta trông trẻ ra ít nhất mười tuổi. Cả gia tộc họ Tề mở tiệc ăn mừng ba ngày ba đêm, quyên góp hàng chục triệu tệ cho quỹ từ thiện của Hồi Xuân Đường.
Nhưng, cái giá của phép màu chưa bao giờ được ghi trên tờ rơi quảng cáo.
“Một tuần trở lại đây, Quang Huy bắt đầu có những biểu hiện rất lạ.”
Gia Nghiên chồm người về phía tôi, ánh mắt hoảng loạn tột độ.
“Ban đêm, khi anh ấy ngủ say, tôi… tôi nghe thấy tiếng khóc. Tiếng khóc của một đứa trẻ con, phát ra từ chính bên trong lồng ngực của anh ấy. Mỗi nhịp thở, tiếng khóc lại vang lên, nỉ non, đau đớn. Ban đầu tôi tưởng mình nghe nhầm, nhưng không. Tiếng khóc đó ngày càng lớn.”
Tôi nheo mắt lại. Tiếng khóc trong lồng ngực? Về mặt y học, có thể là tiếng ran rít của phổi khi phế quản bị hẹp. Nhưng với kinh nghiệm của một kẻ ăn cơm âm phủ, tôi biết chắc chắn đây không phải là vấn đề sinh lý.
“Chỉ có tiếng khóc thôi sao?”
Tôi hỏi lại, giọng lạnh nhạt. Gia Nghiên lắc đầu nguầy nguậy, rút từ trong túi xách ra một chiếc hộp gỗ nhỏ bọc vải nhung, đẩy về phía tôi.
“Mỗi ngày anh ấy vẫn phải uống một viên thuốc hoàn để duy trì. Hai hôm trước, khi tôi bưng bát thuốc vào phòng, Quang Huy hoảng loạn hất tung cái bát. Anh ấy chỉ tay vào thứ nước đen ngòm tràn trên sàn nhà, hét lên rằng có những khuôn mặt đang nổi lềnh bềnh trong đó. Buổi tối, anh ấy liên tục nói sảng, cứ lặp đi lặp lại một câu duy nhất…”
Gia Nghiên nuốt nước bọt, giọng thì thào như sợ ma quỷ nghe thấy.
“Anh ấy bảo… Tha cho tôi… tôi không biết… tôi thực sự không biết…”
Tôi mở chiếc hộp gỗ ra. Bên trong là một viên thuốc hoàn hình tròn, to bằng đầu ngón tay cái, đen bóng và tỏa ra một mùi hương rất kỳ lạ. Không phải mùi thuốc bắc thông thường, mà là một mùi tanh ngọt mờ nhạt, giống hệt mùi máu khô để lâu ngày bị ẩm mốc. Tôi dùng móng tay cạo nhẹ một chút bột trên bề mặt viên thuốc, đưa lên mũi ngửi. Đáy mắt tôi lập tức xẹt qua một tia sắc lạnh.
Định luật bảo toàn năng lượng luôn đúng, kể cả trong khoa học lẫn tâm linh. Năng lượng không tự nhiên sinh ra cũng không tự nhiên mất đi. Bệnh tật cũng vậy. Một khối u ác tính giai đoạn cuối không thể bốc hơi thành không khí chỉ nhờ vài viên thuốc và ba nén nhang. Nếu Tề Quang Huy khỏi bệnh, nghĩa là cái chết của anh ta đã được chuyển dời sang một chỗ khác. Hoặc, một người khác.
Tôi đóng nắp hộp lại, nhét thẳng vào túi áo khoác.
“Tôi nhận vụ này. Sáng mai tôi sẽ đích thân đến Hồi Xuân Đường khám bệnh. Chị cứ chuẩn bị sẵn tinh thần đi, phu nhân Tề. Bất cứ thứ gì giúp người ta cải tử hoàn sinh, cái giá phải trả phía sau thường đắt hơn mạng sống rất nhiều.”
Sáng hôm sau, tôi bắt taxi đến ngoại ô Thâm Quyến. Hồi Xuân Đường nằm nép mình dưới chân một ngọn núi nhỏ, tách biệt hoàn toàn với sự ồn ào của đô thị. Nhìn từ xa, nơi này giống như một dinh thự cổ thời Minh Thanh. Bức tường vôi trắng toát, mái ngói xám tro vươn cao, trước cổng là hai bức tượng kỳ lân bằng đá xanh chạm trổ tinh xảo.
Dòng người bệnh xếp hàng dài dằng dặc từ ngoài cổng kéo tít vào tận sân trong. Ai nấy đều mang vẻ mặt thành kính, như thể đang đi hành hương chứ không phải đi khám bệnh. Không khí ở đây cực kỳ thanh tịnh, thoang thoảng mùi nhang đàn hương xoa dịu thần kinh. Nếu là một người bình thường, chắc chắn sẽ thấy nơi này mang đậm tiên phong đạo cốt.
Nhưng tôi không phải người bình thường.
Tôi thọc tay vào túi áo, ngón tay khẽ miết lên mặt chiếc la bàn phong thủy bằng đồng thau. Dưới lớp vải áo, kim la bàn đang xoay tít mù như bị động kinh. Nó không chỉ hướng về một phía, mà liên tục chúc đầu xuống dưới đất. Tín hiệu này rõ ràng đến mức không thể nhầm lẫn. Âm khí. Một lượng âm khí khổng lồ, đặc quánh, đang bị nén chặt bên dưới lớp gạch lát sân của cái y quán thanh tịnh này.
Tôi nhếch mép cười khẩy, bước qua bậc cửa gỗ cao ngang đầu gối. Tôi dùng thân phận là em gái của một bệnh nhân mắc chứng suy thận mãn tính, đăng ký một gói khám đặc biệt với mức giá cắt cổ để được gặp trực tiếp thần y Mạc Trường Sinh.
Phòng khám của ông ta nằm ở khu nhà phía trong cùng. Căn phòng bày biện vô cùng trang nhã, tường treo các bức thư pháp viết chữ Tâm và chữ Nhẫn. Giữa phòng là một bàn gỗ tử đàn, trên bàn đặt một chiếc lư đồng đang nhả khói lượn lờ. Mạc Trường Sinh ngồi sau bàn, mặc áo dài lụa màu xám tro. Ngoại hình ông ta khoảng bốn mươi lăm tuổi, khuôn mặt không một nếp nhăn, làn da sáng bóng như ngọc, phong thái ung dung tự tại. Bàn tay trái của ông ta đang chậm rãi lần từng hạt trên chuỗi bồ đề.
“Vị tiểu hữu này, sắc mặt cô hồng hào, nhịp thở đều đặn, bước đi nhẹ nhàng nhưng vững chãi. Xem ra không phải người mang bệnh.”
Mạc Trường Sinh cất giọng. Giọng nói của ông ta trầm ấm, vang vọng, mang theo một loại sức mạnh thôi miên kỳ lạ khiến người nghe bất giác buông lỏng cảnh giác.
Tôi kéo ghế ngồi xuống đối diện ông ta, bày ra vẻ mặt lo lắng của một người nhà bệnh nhân tiêu chuẩn.
“Mạc lão tinh mắt thật. Người bệnh là anh trai tôi, không tiện đi lại nên tôi đến trước để xin thuốc. Nghe danh Hồi Xuân Đường bách bệnh giai tiêu, chẳng hay ông có thể bốc cho tôi vài thang mang về không?”
Tôi vừa nói, vừa âm thầm vận khí lên đôi mắt. Âm Dương Nhãn lập tức được kích hoạt. Thế giới trước mắt tôi nhòe đi một chớp mắt, rồi hiện ra bản chất thật của nó.
Khói nhang tỏa ra từ lư đồng không phải màu trắng, mà là một màu đỏ quạch như máu loãng, cuốn lấy những hình thù vặn vẹo đang giãy giụa. Nhưng thứ khiến tôi suýt nữa không giữ nổi vẻ bình thản trên mặt, chính là chuỗi hạt bồ đề trên tay Mạc Trường Sinh.
Mỗi viên hạt mộc mạc kia hoàn toàn không phải là gỗ. Dưới góc nhìn của Âm Dương Nhãn, đó là những cục thịt đỏ hỏn, to bằng đầu ngón tay cái, được bao bọc bởi một lớp màng trong suốt. Bên dưới lớp màng ấy, những mao mạch máu mỏng như sợi tóc đang phập phồng co giật theo từng nhịp ngón tay ông ta lướt qua. Nhịp nhàng. Đều đặn. Giống hệt như tim đập.
Bụng tôi quặn lên một trận buồn nôn. Tên quái nhân này đang cầm một chuỗi khối u sống trên tay, miệng thì mỉm cười từ bi độ lượng.
Mạc Trường Sinh dường như nhận ra sự thay đổi rất nhỏ trong ánh mắt của tôi. Ông ta dừng tay, đặt chuỗi hạt xuống bàn, nụ cười trên môi sâu thêm một chút.
“Thuốc của lão phu không bốc mang về, tiểu hữu à. Bệnh nhân phải đích thân đến đây, ở lại y quán, hấp thụ linh khí đất trời thì thuốc mới phát huy tác dụng. Đưa tay đây, lão phu xem mạch cho cô một chút, coi như có duyên gặp gỡ.”
Ông ta đưa ba ngón tay dài ngoẵng, trắng bệch về phía tôi. Tôi nén cảm giác ghê tởm, đặt cổ tay lên chiếc gối nhỏ. Vừa chạm vào da ông ta, một luồng khí lạnh buốt như băng chui tọt qua lỗ chân lông, chạy dọc theo cánh tay tôi. Đó không phải là nhiệt độ cơ thể người sống. Đó là hàn khí của xác chết.
Tôi mỉm cười, rút tay lại một cách tự nhiên.
“Thần y nói phải. Vậy để hôm khác tôi đưa anh trai đến tận nơi. Chào ông.”
Tôi đứng dậy, quay lưng bước thẳng ra cửa. Khi tay tôi vừa chạm vào nắm đấm cửa, giọng nói của Mạc Trường Sinh lại vang lên phía sau, nhưng lần này không còn chút ấm áp nào, mà lạnh lẽo và sắc nhọn như dao cạo.
“Tiểu hữu, đường đi ban đêm rất nhiều sương mù. Đi cẩn thận kẻo trượt chân.”
Tôi không quay đầu lại, chỉ đẩy cửa bước ra ngoài trời nắng gắt. Vừa ra khỏi cổng Hồi Xuân Đường, tôi lập tức rút điện thoại, bấm số gọi cho Kiều Bách.
Kiều Bách là một nghiên cứu sinh ngành Dược lý và Độc chất học tại Đại học Thanh Hoa cơ sở Thâm Quyến. Tôi quen tên mọt sách cứng đầu này qua một vụ trừ tà trong ký túc xá nam. Cậu sinh viên năm nhất bị bóng đè, tôi chỉ cần dán một lá bùa là xong việc. Nhưng Kiều Bách thì nằng nặc đòi đo nồng độ khí CO2 và kiểm tra hệ thống thông gió của phòng, cho rằng cậu kia bị ảo giác do thiếu oxy. Cuối cùng, tôi thu tiền bùa, còn anh ta thu thập được một đống thông số chả để làm gì. Tính cách của Kiều Bách cực kỳ lý tính, chỉ tin vào những thứ có thể đo đếm dưới kính hiển vi. Nhưng lúc này, tôi cần chính cái sự cứng nhắc khoa học đó của anh ta.
Buổi tối, tôi mang viên thuốc hoàn màu đen đến phòng thí nghiệm của anh ta.
Phòng thí nghiệm sáng rực ánh đèn trắng. Các loại máy móc kêu vo vo êm tai. Kiều Bách mặc áo blouse trắng, đeo kính gọng kim loại, khuôn mặt góc cạnh toát lên vẻ cấm dục của một nhà khoa học điển hình. Anh ta cầm chiếc hộp gỗ lên, dùng nhíp gắp viên thuốc, đưa lên ngang mắt nhìn với vẻ khinh bỉ.
“Cô Lục, cô lại mang mấy thứ rác rưởi mê tín này đến làm bẩn máy sắc ký lỏng của tôi à? Lần trước là tro bùa, lần này là cái gì đây? Cứt thỏ trộn mật ong sao?”
Tôi kéo một chiếc ghế xoay, gác chân lên mặt bàn, ung dung đáp.
“Kiều tiên sinh, bớt mỏ hỗn đi. Viên thuốc này trị giá cả trăm vạn tệ đấy. Chồng của khách hàng tôi bị ung thư tuyến tụy giai đoạn cuối, uống thứ này ba tuần thì tế bào ung thư biến mất không còn một mảnh. Bệnh viện đã xác nhận. Anh không tò mò xem bên trong nó có chất gì sao?”
Nghe đến chữ “ung thư tuyến tụy”, động tác của Kiều Bách khựng lại. Ánh mắt khinh khỉnh của anh ta lập tức biến mất, thay vào đó là sự tập trung cao độ của một kẻ cuồng nghiên cứu. Anh ta không nói tiếng nào, lập tức bắt tay vào việc.
Tiếng gõ bàn phím lách cách, tiếng máy ly tâm quay tít, tiếng dung dịch nhỏ giọt. Tôi ngồi ngáp ngắn ngáp dài, lướt điện thoại xem giá mì tôm sỉ trên mạng. Gần hai tiếng đồng hồ trôi qua, Kiều Bách đột ngột đứng bật dậy, đẩy lùi chiếc ghế ra sau tạo thành một tiếng rít chói tai trên mặt sàn.
Mặt anh ta trắng bệch, đôi mắt sau tròng kính mở to đờ đẫn, nhìn chằm chằm vào màn hình hiển thị kết quả khối phổ.
“Thế nào nhà khoa học thiên tài? Tìm ra phương thuốc đạt giải Nobel y học chưa?”
Tôi bước tới, vỗ mạnh vào vai anh ta. Kiều Bách rùng mình một cái, giọng nói run rẩy khác hẳn vẻ tự tin thường ngày.
“Không thể nào… Chuyện này vi phạm mọi nguyên lý sinh học cơ bản…”
Anh ta chỉ tay vào biểu đồ nhiễu loạn trên màn hình.
“Thành phần chính của viên thuốc này… là collagen người. Thêm vào đó là tủy xương nghiền mịn. Nhưng điều điên rồ nhất là một hợp chất protein chưa từng được ghi nhận trong bất kỳ tài liệu y khoa nào. Cấu trúc phân tử của nó hoàn toàn giống với mô thần kinh sống.”
Tôi cau mày. Mô thần kinh sống?
“Nghĩa là sao? Nói tiếng người đi.”
Kiều Bách quay sang nhìn tôi, ánh mắt như người vừa thấy ma, dù anh ta chưa bao giờ tin có ma.
“Nghĩa là… viên thuốc này, dù đã được bào chế, sấy khô từ hàng tháng trước… nhưng về mặt sinh học, nó vẫn đang sống. Nó có phản ứng thần kinh.”
Không đợi tôi phản ứng, Kiều Bách điên cuồng vớ lấy một con dao mổ, cắt một mảnh nhỏ xíu từ viên thuốc. Anh ta cẩn thận đặt nó lên lam kính, nhỏ một giọt dung dịch nước cất xen lẫn hóa chất phát quang, rồi đưa vào dưới kính hiển vi huỳnh quang độ phân giải cao.
Anh ta điều chỉnh tiêu cự, vặn núm xoay. Vài giây sau, hình ảnh phóng đại từ kính hiển vi được truyền trực tiếp lên màn hình máy tính lớn trên tường.
Cả phòng thí nghiệm chìm vào im lặng chết chóc.
Dưới tác động của nước cất, lớp vỏ đen bóng của viên thuốc bắt đầu tan rã. Lớp collagen và tủy xương bong ra từng mảng bùng nhùng. Và rồi, từ chính giữa lõi viên thuốc, một cấu trúc siêu nhỏ hiện ra rõ mồn một rành mạch dưới ánh sáng huỳnh quang xanh lục.
Đó không phải là một hợp chất hóa học hình lục giác hay chuỗi xoắn kép.
Đó là một khuôn mặt người.
Một khuôn mặt thu nhỏ đến mức vi mô, méo mó, nhăn nhúm. Nó không có mắt, chỉ có hai hốc đen ngòm sâu thẳm. Và cái miệng của nó đang há hốc ra hết cỡ, vặn xoắn lại trong một tư thế đau đớn tột cùng. Dù không có chút âm thanh nào lọt ra ngoài, nhưng cả tôi và Kiều Bách đều có thể cảm nhận rõ ràng tiếng thét xé rách màng nhĩ phát ra từ khuôn mặt đó.
Nó đang sống. Và nó đang khóc.
Kiều Bách lảo đảo lùi lại mấy bước, đụng đổ cả giá để ống nghiệm. Tiếng thủy tinh vỡ loảng xoảng vang lên khô khốc.
“Thứ quái quỷ gì thế này… Cô Lục… thứ này rốt cuộc là cái gì?”
Anh ta ôm đầu, thế giới quan khoa học ba mươi năm qua đang sụp đổ vỡ vụn từng mảnh.
Tôi rút tờ bùa vàng trong túi áo ra, kẹp giữa hai ngón tay, ánh mắt lạnh lẽo nhìn chằm chằm vào màn hình. Tiếng khóc trong lồng ngực Tề Quang Huy, những khuôn mặt trong bát thuốc, và chuỗi hạt bồ đề bằng thịt trên tay Mạc Trường Sinh. Tất cả đã ghép lại thành một bức tranh hoàn chỉnh mang đầy mùi máu tanh tưởi.
“Kiều tiên sinh, anh vừa chiết xuất thành công linh hồn con người đấy. Chuẩn bị đồ nghề đi. Đêm nay, tôi sẽ dẫn anh đi xem một cái vườn dược liệu mà sách giáo khoa của anh không bao giờ dám viết vào.”
Hai giờ sáng, sương mù từ trên núi tràn xuống, nuốt chửng toàn bộ khu ngoại ô vào một màu trắng đục ngầu. Gió rít qua những tán cây tạo thành những âm thanh nỉ non như tiếng người khóc nghẹn.
Kiều Bách khoác một chiếc balo đen to sụ, bên trong lỉnh kỉnh đủ thứ thiết bị phân tích di động, kít xét nghiệm nhanh và cả một bình nitơ lỏng bảo quản mẫu vật mà anh ta nằng nặc đòi mang theo. Dù sắc mặt vẫn còn nhợt nhạt sau cú sốc vi mô ban nãy, nhưng đôi mắt của gã mọt sách này lại sáng rực lên một thứ ánh sáng cố chấp đến đáng sợ.
“Cô Lục, tôi đi cùng cô không phải vì tôi tin vào mấy trò ma quỷ của cô đâu nhé. Mẫu vật sinh học bất thường cấp độ này cần được thu thập tại nguồn. Nếu để lọt ra ngoài, lây nhiễm chéo thì hậu quả khó lường.”
Tôi vừa nhét xấp bùa vàng vào túi áo trong, vừa liếc anh ta một cái đầy mỉa mai.
“Anh cứ việc tin vào khoa học của anh, còn tôi tin vào số dư tài khoản. Nhớ cho kỹ, lát nữa có chuyện gì thì tự lo cái mạng mình trước. Tôi thu phí bảo kê rất đắt, và tôi tuyệt đối không đền bù cho bất kỳ cái máy móc nào của anh nếu nó bị ma đập vỡ đâu.”
Chúng tôi trèo qua bức tường rào phía sau Hồi Xuân Đường. Khác với vẻ thanh tịnh, nhang khói nghi ngút vào ban ngày, y quán lúc nửa đêm tỏa ra một luồng tử khí lạnh buốt sống lưng. Tôi lấy chiếc la bàn bằng đồng thau ra. Kim la bàn không còn xoay tít nữa, mà nó giật cục từng nhịp, chĩa thẳng về phía gian nhà chính, nơi có bức bình phong bằng gỗ trắc khắc bốn chữ lớn:
“Từ bi độ thế.”
Tôi đẩy nhẹ bức bình phong. Một tiếng cạch khô khốc vang lên. Bức tường gạch phía sau từ từ hé ra một khe hở vừa đủ một người lách qua, để lộ một cầu thang đá sâu hun hút dẫn thẳng xuống lòng đất. Âm khí từ dưới đó trào lên đặc quánh, mang theo mùi của rễ cây mục nát trộn lẫn với mùi phóc-môn ngâm xác.
Kiều Bách ho khan một tiếng, bật đèn pin tia cực tím lên, lách người bước xuống trước. Tôi nắm chặt thanh kiếm gỗ đào giấu trong tay áo, bước theo sát gót.
Càng đi xuống sâu, nhiệt độ càng giảm mạnh. Khi mũi giày của tôi chạm đến bậc thang cuối cùng, không gian trước mắt đột ngột mở rộng ra thành một tầng hầm khổng lồ, rộng bằng cả một cái sân vận động.
Ánh đèn pin của Kiều Bách quét một vòng, và rồi, cả tôi lẫn anh ta đều đứng chết trân tại chỗ.
