Theo dõi phở để rùng mình trong đêm. Văn án:
Ba năm làm dâu nhà họ Kiều, tôi dâng trọn bí quyết gia truyền của cha, đổi lại chỉ nhận nắm đấm và nước mắt. Đêm họ dìm tôi xuống bể chàm, câu cuối cùng vọng vào tai tôi là giọng mẹ chồng:
“Đã vào cửa nhà họ Kiều, thì chỉ có chết mới được ra.”
Nước chàm ngập cổ họng. Phổi tôi bỏng rát. Thế giới chìm vào màu xanh đen tuyệt vọng. Nhưng dòng sông Thanh Hà đã không để tôi biến mất. Từ nay, mỗi giọt nước chảy qua nhà họ Kiều đều mang theo oán niệm của tôi. Tôi sẽ nhuộm lại từng kẻ, bằng đúng cái màu mà chúng xứng đáng được khoác lên.
Tôi chết vào một đêm không trăng, ngay trong cái bể nhuộm chàm mà chính tay tôi đã khuấy mải miết suốt ba năm ròng rã.
Nước chàm đặc quánh, lạnh buốt, tràn qua mũi, xộc thẳng vào cuống phổi. Cái cảm giác ngạt thở ấy thật kỳ lạ. Ban đầu là sự hoảng loạn tột độ, lồng ngực co thắt như muốn vỡ tung, tay chân giãy giụa trong vô vọng. Nhưng khi oxy cạn kiệt, ý thức bắt đầu lỏng lẻo, mọi thứ lại trở nên tĩnh lặng đến rợn người. Qua lớp nước xanh đen ngòm, tôi vẫn kịp mở to mắt, nhìn xuyên qua những bọt khí đang vỡ vụn.
Bên trên mặt bể, ba khuôn mặt đang nhìn xuống.
Chồng tôi, Kiều Trường Phong, kẻ mang danh thư sinh nho nhã, lúc này đang nghiến răng tì chặt hai vai tôi xuống đáy. Bàn tay thư sinh của hắn siết mạnh đến mức móng tay găm cả vào thịt tôi. Em trai hắn, Kiều Trường Huy, gã thanh niên quanh năm lêu lổng ở sòng bài, thì đang dùng gót giày đạp thẳng lên đỉnh đầu tôi, lực đạo dứt khoát như đang giẫm nát một con bọ. Còn mẹ chồng tôi, Kiều Hứa thị, người phụ nữ vẫn đeo chuỗi tràng hạt bồ đề bóng loáng trên cổ tay, đứng chắp tay sau lưng, ánh mắt lạnh lẽo bình thản như đang xem người ta làm thịt một con gà.
Bọt nước cuối cùng thoát ra khỏi môi tôi. Tầm nhìn tối sầm lại.
Tôi không oán gào. Tôi không khóc. Nước chàm đã lấp kín mọi âm thanh. Tôi chỉ thấy buồn cười. Thật sự buồn cười. Hóa ra, lòng tốt của nhà họ Kiều rẻ mạt như mớ rau ngoài chợ chiều, mua xong thì ngắt bỏ lá úa, vắt kiệt nhựa sống, rồi ném thẳng vào đống rác không thương tiếc.
Thị trấn Thanh Hà nằm uốn mình bên khúc sông lớn, quanh năm bảng lảng sương mù. Nhắc đến Thanh Hà, bá tánh khắp vùng Giang Nam đều nghĩ ngay đến nghề nhuộm vải chàm. Ở đây, nhà nhà trồng chàm, người người dệt vải. Nhưng để nói về đỉnh cao của kỹ nghệ nhuộm, không ai qua mặt được cha tôi, Lục Hoài Sơn.
Cha tôi là một nghệ nhân nghèo, sống thanh bần trong căn nhà nhỏ xập xệ sát bờ sông. Ông không có tiền tài, không có xưởng lớn, nhưng ông nắm giữ bí quyết gia truyền bảy đời của dòng họ Lục, thứ được xưng tụng là chàm nguyệt bạch. Vải nhuộm chàm bình thường chỉ có màu xanh đen thô ráp, nhưng chàm nguyệt bạch của cha tôi lại khác. Dưới ánh sáng mặt trời, nó mang sắc xanh sâu thẳm của biển khơi. Còn dưới ánh trăng, mặt vải lại ánh lên những tia sáng bàng bạc, mềm mại như dòng suối chảy. Khách quý từ tận Bắc Kinh, Thượng Hải sẵn sàng vung hàng đống nhân dân tệ chỉ để đổi lấy một thước lụa chàm nguyệt bạch.
Đáng tiếc, kỹ nghệ càng cao, cái giá phải trả càng lớn. Bụi chàm và hơi thuốc nhuộm tàn phá buồng phổi của cha. Năm tôi tròn mười lăm tuổi, ông ho ra máu liên tục. Trước lúc nhắm mắt xuôi tay, ông gọi tôi đến bên giường, run rẩy trao cho tôi cuốn sổ tay ố vàng ghi chép công thức pha chế.
“Đình nhi, đây là mạng sống của tổ tiên, cũng là bùa hộ mệnh của con. Nhớ kỹ, chỉ truyền cho người cùng chung chăn gối, tuyệt đối không để lọt ra ngoài.”
Ông ra đi, để lại tôi bơ vơ giữa thị trấn Thanh Hà rộng lớn. Tôi cứ nghĩ mình sẽ chôn vùi tuổi xuân bên những vại chàm hôi hám, cho đến năm tôi mười chín tuổi, Kiều gia mang sính lễ đến gõ cửa.
Gia tộc họ Kiều là đại gia buôn vải khét tiếng nhất thị trấn. Bọn họ sở hữu ba xưởng nhuộm quy mô lớn, nắm trong tay tuyến thương mại đường thủy dọc con sông Thanh Hà. Kiều Trường Phong, đại thiếu gia nhà họ Kiều, đích thân mang theo mười tám rương sính lễ đỏ chót, đứng trước hàng rào trúc xập xệ nhà tôi. Hắn mặc áo gấm trắng, nụ cười ôn nhu như ngọc, giọng nói ấm áp tựa gió xuân.
“Uyển Đình, gia cảnh nàng neo đơn, ta nguyện đón nàng về Kiều phủ, cả đời che chở, tuyệt không để nàng chịu nửa điểm ủy khuất.”
Cô gái mười chín tuổi chưa từng bước chân ra khỏi ranh giới thị trấn như tôi, làm sao chống đỡ nổi thứ mật ngọt chết người ấy. Tôi gật đầu, ngây thơ tin rằng ông trời cuối cùng cũng thương xót, ban cho mình một bến đỗ bình yên. Đám cưới diễn ra linh đình, cờ hoa rợp trời. Cả thị trấn Thanh Hà xôn xao bàn tán, ai nấy đều thầm ghen tị với vận may của đứa con gái mồ côi họ Lục.
Nhưng ảo mộng vỡ vụn nhanh hơn tôi tưởng. Chính xác là vào sáng ngày thứ hai sau đêm tân hôn.
Hôm đó, tôi bưng khay trà đến sảnh chính thỉnh an mẹ chồng. Bà Hứa ngồi chễm chệ trên ghế thái sư bằng gỗ trắc, tay gẩy gẩy nắp chén trà bằng sứ thanh hoa, ánh mắt sắc như dao cạo lướt từ đỉnh đầu xuống gót chân tôi. Bà ta mỉm cười, một nụ cười ấm áp như tủ đông trong xưởng làm đá.
“Uyển Đình à, con đã bước qua bậu cửa nhà họ Kiều, thì từ nay mọi vinh nhục của con đều gắn liền với cái nhà này. Bí quyết chàm nguyệt bạch của cha con, giữ khư khư trong đầu cũng chẳng sinh ra tiền. Chi bằng con chép lại, giao cho xưởng lớn của gia tộc sản xuất. Có như vậy, tổ tiên họ Lục dưới suối vàng mới được ngậm cười.”
Tôi sững sờ. Bàn tay bưng khay trà khẽ run rẩy. Lời dặn dò trước lúc lâm chung của cha văng vẳng bên tai. Nhưng nhìn sang Trường Phong, hắn chỉ cúi gầm mặt, đằng hắng một tiếng rồi nói nhỏ.
“Nương tử, mẹ nói đúng đấy. Chúng ta là người một nhà, tính toán chi li làm gì. Nàng cứ giao công thức ra, sau này ta làm chủ sự, nàng làm phu nhân, vinh hoa phú quý hưởng không hết.”
Tôi cắn môi đến bật máu, cuối cùng vẫn lôi cuốn sổ tay ố vàng từ đáy rương hồi môn ra, đặt vào tay bà Hứa. Ngay khoảnh khắc cuốn sổ rời khỏi tay tôi, nụ cười trên môi mẹ chồng vụt tắt. Bà ta lật nhanh vài trang, xác nhận đó là đồ thật, rồi lạnh lùng hất cằm ra hiệu cho người hầu thu dọn chén trà, chẳng buồn đáp lại cái cúi đầu chào của tôi.
Từ ngày hôm đó, địa ngục chính thức mở cửa.
Bà Hứa không cho tôi làm phu nhân như lời Trường Phong hứa hẹn. Bà ta bảo, người nắm công thức thì phải tự tay xuống xưởng giám sát, nếu không thợ thuyền sẽ làm hỏng mất danh tiếng chàm nguyệt bạch. Thế là tôi, từ một thiếu phu nhân danh giá, bị đẩy xuống xưởng nhuộm ẩm thấp ở sân sau.
Mỗi buổi sáng, khi gà chưa kịp gáy, tôi đã phải thức dậy nhóm lửa, đun nước, vớt bã chàm. Đôi bàn tay vốn mềm mại chẳng mấy chốc nứt nẻ, bong tróc, nhuốm một màu xanh đen không cách nào rửa sạch. Hơi thuốc nhuộm xộc vào mũi, làm cổ họng tôi lúc nào cũng rát buốt. Tôi làm việc quần quật như một con trâu ách cày, không có lấy một ngày nghỉ ngơi.
Còn Trường Phong, người chồng thề non hẹn biển sẽ che chở tôi cả đời, hóa ra chỉ là một con rối bù nhìn. Hắn sợ mẹ như chuột sợ mèo. Ở bên ngoài, hắn tỏ ra đạo mạo, giao tiếp bằng những lời lẽ hoa mỹ, được người đời khen ngợi là thương nhân tài ba. Nhưng vừa bước chân qua cổng Kiều phủ, hắn liền thu mình lại, răm rắp nghe theo mọi mệnh lệnh của bà Hứa.
Khi áp lực buôn bán tăng cao, hắn bắt đầu tìm đến rượu. Và khi say, con quái vật ẩn sâu trong lớp vỏ thư sinh mới thực sự hiện hình.
Mũi giày da cứng ngắc của hắn đá thốc vào mạn sườn tôi. Tôi ngã nhào xuống sàn gạch lạnh lẽo, ôm lấy bụng, cắn chặt môi không dám bật ra tiếng khóc. Trường Phong lảo đảo bước tới, mùi rượu nồng nặc phả vào không khí. Hắn túm lấy mớ tóc rối bời của tôi, giật ngược lên.
“Đồ vô dụng! Cô làm cái kiểu gì mà lô lụa tháng này màu lại nhạt hơn tháng trước? Khách quý ở Thượng Hải đang đòi hủy hợp đồng kìa! Cô giấu nghề đúng không? Cô cố tình giấu công thức cốt lõi để hại nhà họ Kiều đúng không?”
Tôi thều thào giải thích, giọng khản đặc vì hít quá nhiều bụi chàm.
“Không phải… Thời tiết dạo này quá ẩm, phơi không đủ nắng nên màu chàm không ăn sâu vào thớ vải… Thiếp đã dặn thợ giảm lượng nước, nhưng mẹ không cho, mẹ nói làm thế sẽ hao hụt nguyên liệu…”
Chát! Một cái tát nảy lửa giáng xuống má trái. Tai tôi ù đi. Máu rỉ ra từ khóe miệng, tanh nồng.
“Dám cãi à? Dám đổ lỗi cho mẹ ta à? Cái thứ đàn bà không biết điều! Nhà họ Kiều bố thí cho cô miếng cơm manh áo, cô không biết đội ơn thì chớ, lại còn dám sinh lòng phản trắc!”
Hắn gầm rĩ, trút những cú đấm đá vô tội vạ lên người tôi. Trường Phong đánh vợ bài bản như cách hắn học thuộc lòng gia huấn. Hắn không bao giờ đánh vào mặt, trừ cái tát đầu tiên. Hắn nhắm vào lưng, vào đùi, vào những chỗ kín đáo bị lớp y phục che khuất, để ngày mai tôi vẫn có thể lết xác ra xưởng làm việc mà không khiến đám thợ thuyền xì xầm to nhỏ.
Trong góc phòng, bà Hứa ngồi vắt chéo chân trên trường kỷ, nhấp một ngụm trà sâm, ánh mắt lướt qua cảnh tượng bạo hành thản nhiên như đang xem một vở kịch nhàm chán. Mụ ta khẽ tặc lưỡi.
“Thôi, đánh thế đủ rồi, Phong nhi. Đánh hỏng tay nó thì ngày mai lấy ai quậy thùng chàm. Cái thứ bồn nhuộm biết đi này, hư rồi thì phí lắm.”
Trường Phong lập tức dừng tay, ngoan ngoãn dạ vâng, rồi lảo đảo bước về giường ngủ, ngáy o o như chưa hề có chuyện gì xảy ra. Còn tôi, cuộn tròn trên mặt sàn ướt lạnh, ôm lấy những vết bầm tím đang sưng tấy, tự hỏi liệu ông trời có đang mù lòa hay không.
Sự tàn nhẫn của Kiều gia không dừng lại ở những trận đòn roi. Nó ngấm ngầm ăn mòn phẩm giá con người qua từng chi tiết nhỏ nhặt nhất. Suốt ba năm ròng, tôi làm ra cho họ hàng vạn thước lụa quý, mang về lợi nhuận khổng lồ, nhưng bản thân lại không có nổi một đồng tiền xu dính túi.
Bà Hứa là một kẻ cuồng tiền đến mức bệnh hoạn. Mụ ta không tin tưởng bất kỳ ngân phiếu hay trương mục tiền gửi nào. Mụ ta gom hết tiền vàng, đại dương, nhân dân tệ, đúc thành từng thỏi, cất kỹ trong một chiếc rương sắt khổng lồ giấu dưới gầm giường. Mỗi đêm khuya khoắt, khi cả phủ đã chìm vào giấc ngủ, tôi lại nghe thấy tiếng lách cách mở khóa. Bà Hứa sẽ lôi rương sắt ra, đếm tới đếm lui từng đồng bạc trắng, lẩm nhẩm tính toán lợi nhuận. Âm thanh kim loại va chạm vào nhau lanh lảnh văng vẳng qua vách tường, nghe rợn người như tiếng quỷ sai mài đao dưới địa ngục. Mụ ta yêu cái rương sắt ấy hơn cả mạng sống, hơn cả hai đứa con trai ruột của mình.
Nhắc đến con trai, không thể không kể đến Kiều Trường Huy, nhị thiếu gia của gia tộc. Nếu Trường Phong là kẻ đạo đức giả, thì Trường Huy lại là một tên tiểu nhân hèn hạ lộ liễu. Hắn lười biếng, vô học, suốt ngày cắm mặt vào các sòng bài ở Thượng Hải, vung tiền như rác. Khi hết tiền, hắn lại mò về nhà, bày đủ trò moi móc tài sản.
Và mục tiêu yêu thích nhất của hắn, chính là tôi.
Không ít lần, khi tôi đang lúi húi vớt bã chàm trong xưởng vắng, Trường Huy lén lút bước tới từ phía sau, hơi thở phả mùi thuốc lá rẻ tiền lên gáy tôi. Hắn cố tình đụng chạm, buông những lời cợt nhả bẩn thỉu.
“Chị dâu à, đại ca dạo này yếu đuối quá nhỉ, bỏ mặc chị vò võ một mình. Hay là để thằng em này giúp chị giãn gân giãn cốt một chút? Chị chỉ cần lén tuồn cho em vài thước chàm nguyệt bạch loại một, em hứa sẽ làm chị vui vẻ.”
Tôi ghê tởm hất tay hắn ra, trừng mắt nhìn.
“Cậu tự trọng đi! Nếu tôi nói chuyện này cho mẹ và đại ca, cậu nghĩ mình sẽ yên thân sao?”
Trường Huy phì cười, tiếng cười xé rách không gian ẩm mốc của xưởng nhuộm.
“Chị dâu ngây thơ quá. Chị nghĩ mẹ sẽ tin lời một con tiện tỳ như chị, hay tin đứa con trai do bà rứt ruột đẻ ra? Chị cứ thử mở miệng xem, xem đại ca có bẻ gãy chân chị vì tội lăng loàn quyến rũ em chồng không?”
Hắn nói đúng. Tôi không có tiếng nói trong cái nhà này. Tôi chỉ là một công cụ, một cái máy in tiền bằng thịt. Tôi cắn răng chịu đựng, tự nhủ chỉ cần mình làm việc chăm chỉ, một ngày nào đó họ sẽ nới lỏng vòng vây, để tôi có cơ hội trốn thoát.
Nhưng tôi đã nhầm. Kẻ ác không bao giờ biết điểm dừng. Chúng chỉ dừng lại khi nạn nhân không còn gì để bóc lột.
Biến cố thực sự, thứ đẩy tôi xuống đáy vực thẳm, xảy ra vào một đêm mưa bão giữa tháng Bảy.
Đêm đó, tôi bị sốt cao, lén rời phòng đi xuống nhà bếp tìm chút nước ấm. Khi đi ngang qua thư phòng, tôi thấy khe cửa vẫn hắt ra ánh sáng vàng vọt. Bên trong có tiếng tranh cãi thì thầm. Tò mò, tôi nép sát vào vách gỗ, nín thở lắng nghe.
“Mẹ điên rồi sao? Thuốc nhuộm hóa học nhập từ Tây Dương về tuy rẻ, lên màu nhanh, nhưng nó có độc! Nếu trộn chung với công thức chàm nguyệt bạch của nhà họ Lục, vải nhuộm ra thoạt nhìn không khác biệt, nhưng người mặc vào sẽ bị lở loét da thịt. Nếu quan phủ phát hiện, cả nhà họ Kiều sẽ bị chém đầu đền mạng!”
Giọng Trường Phong run rẩy, đầy vẻ sợ hãi.
Đáp lại hắn là tiếng hừ lạnh sắc lẹm của bà Hứa.
“Im miệng! Quan phủ thì biết cái gì? Chỉ cần đút lót vài nén vàng, bọn chúng sẽ nhắm mắt làm ngơ. Lô hàng tháng tới xuất đi Thâm Quyến số lượng cực lớn, nếu nhuộm theo phương pháp truyền thống thì năng suất không đủ, nguyên liệu lại đắt đỏ. Dùng hóa chất trộn vào, lợi nhuận sẽ tăng gấp ba. Đứa nào phồng rộp da thịt là do cơ địa chúng nó kém, liên quan gì đến Kiều gia?”
“Nhưng… nhưng lỡ Lục Uyển Đình phát hiện thì sao? Con ả đó rành rẽ từng công đoạn, nó mà biết chúng ta làm hỏng danh tiếng cha nó, nó sẽ làm ầm lên mất!”
Giọng Trường Huy chen vào, mang theo sự cợt nhả thường ngày.
“Đại ca lo xa quá. Cứ lấy cớ mở rộng xưởng, đẩy con ả đó ra xa khu pha chế cốt lõi. Còn công thức gốc, mẹ con ta đã nắm trong tay rồi, giữ nó lại làm gì cho chướng mắt? Chẳng phải dạo này nó hay ho ra máu sao? Cứ để nó chết vì bệnh phổi như lão cha nó, thế là xong chuyện.”
Tôi đứng chôn chân ngoài cửa, toàn thân lạnh toát. Trái tim trong lồng ngực như bị ai bóp nghẹt.
Bọn chúng không chỉ cướp đoạt công sức của tôi, chà đạp lên nhân phẩm của tôi, mà giờ đây, chúng còn muốn bôi nhọ di sản thiêng liêng nhất của cha tôi. Chàm nguyệt bạch là tâm huyết cả đời của ông, là thứ nghệ thuật tinh khiết nhất. Vậy mà lũ súc sinh này dám dùng hóa chất độc hại trộn vào, biến nó thành thứ công cụ giết người đê hèn để vơ vét tiền bạc.
Tôi không thể nhẫn nhịn thêm được nữa. Nếu cứ ở lại, tôi sẽ chết mòn trong góc xưởng, mang theo nỗi oan khuất không thể gột rửa. Tôi phải sống. Tôi phải thoát khỏi đây, mang theo bằng chứng lên quan phủ trên tỉnh tố cáo bọn chúng.
Tôi chạy thục mạng về phòng, gom vội vài bộ quần áo rách, vơ lấy cuốn sổ tay công thức gốc mà tôi đã giấu kín dưới lớp gạch lát sàn. Trời bên ngoài mưa trút nước. Tôi khoác vội chiếc áo tơi, lầm lũi băng qua màn đêm, hướng về phía cổng sau của Kiều phủ.
Chỉ cần bước qua cánh cổng gỗ lim đó, tôi sẽ được tự do. Chỉ cần một bước nữa thôi.
Bàn tay tôi vừa chạm vào then cài kim loại lạnh ngắt, một luồng ánh sáng chói lòa bất ngờ hắt thẳng vào mặt tôi. Tiếng chó sủa inh ỏi vang lên xé toạc màn đêm.
Từ trong bóng tối, ba bóng người lù lù xuất hiện dưới ánh đuốc bập bùng.
Bà Hứa che ô, khuôn mặt nhăn nheo hắt bóng đáng sợ. Trường Phong cầm gậy trúc, tay run lẩy bẩy. Còn Trường Huy cười khẩy, vung vẩy chùm chìa khóa cổng trên tay.
“Chị dâu định đi đâu giữa đêm mưa gió thế này? Mang theo cả sổ tay công thức gốc, tính bỏ trốn theo trai à?”
Trường Huy nhếch mép, bước lên phía trước tóm chặt lấy bím tóc của tôi, giật mạnh về sau. Tôi ngã ngửa ra nền đất lầy lội bùn nước, túi nải rơi tung tóe.
“Thả tôi ra! Lũ súc sinh! Các người dùng thuốc độc hại người, phá hoại danh tiếng cha tôi, quan phủ sẽ không tha cho các người đâu!”
Tôi gào lên, vùng vẫy tuyệt vọng.
Bà Hứa bước tới, mũi hài thêu hoa giẫm nát cuốn sổ tay dưới lớp bùn. Mụ ta cúi xuống, bóp chặt cằm tôi, móng tay sắc nhọn găm vào da thịt. Ánh mắt mụ ta không có lấy một tia nhân tính, chỉ có sự tàn nhẫn lạnh lẽo của loài bò sát.
“Quan phủ? Mày nghĩ mày còn cơ hội mở miệng sao? Tao đã nói rồi, đã vào cửa nhà họ Kiều, thì chỉ có chết mới được ra.”
Bà ta đứng thẳng dậy, vẩy vẩy bàn tay dính nước mưa, giọng đều đều ra lệnh.
“Xử lý nó đi. Dọn dẹp cho sạch sẽ, đừng để lại dấu vết.”
Trường Phong chần chừ, ánh mắt lộ vẻ hoảng loạn.
“Mẹ… lỡ người ta phát hiện…”
“Phát hiện cái gì? Ngày mai cứ loan tin nó tư thông với nhân tình, trộm tiền bỏ trốn. Đứa nào dám thắc mắc? Mày không làm thì cút ra một bên, để thằng Huy làm!”
Bà Hứa quát lớn.
Trường Huy cười gằn, túm lấy cổ áo tôi lôi xềnh xệch trên mặt đất. Trường Phong thấy vậy cũng vội vàng chạy tới, nắm lấy hai chân tôi. Bọn chúng khiêng tôi, một người đàn bà gầy gò ốm yếu, đi thẳng về phía xưởng nhuộm.
Cánh cửa xưởng bật mở. Mùi chàm lên men nồng nặc xộc vào mũi. Bể nhuộm lớn nhất, sâu nhất nằm ngay giữa phòng, thứ nước xanh đen đặc quánh bên trong đang sủi bọt ùng ục như miệng núi lửa.
Chúng ném tôi lên thành bể. Tôi vùng vẫy điên cuồng, cắn phập vào cổ tay Trường Phong. Hắn thét lên đau đớn, nhưng lập tức dùng sức đè nghiến vai tôi xuống. Trường Huy thấy thế liền nhảy phốc lên thành bể, vung chân đạp mạnh vào ngực tôi.
Tôi mất đà, ngửa người rơi tọt xuống dòng nước chàm lạnh giá.
Nước tràn vào miệng. Tôi cố ngoi lên, nhưng bàn tay của Trường Phong đã giữ chặt lấy vai, ép tôi chìm xuống. Mũi giày của Trường Huy giẫm thẳng lên đỉnh đầu tôi, lực ép khủng khiếp khiến cổ tôi như muốn gãy gập.
Tôi mở to mắt. Qua lớp nước đục ngầu, tôi thấy hình bóng chúng méo mó, quỷ quyệt. Tôi rủa sả chúng bằng mọi ý nghĩ căm phẫn nhất. Tôi nguyền rủa cái vỏ bọc đạo mạo của Trường Phong. Tôi nguyền rủa thói hám tiền bẩn thỉu của bà Hứa. Tôi nguyền rủa sự tàn ác hèn hạ của Trường Huy.
Oán khí trong lồng ngực tôi phình to, to mãi, vỡ tung cùng bọt khí cuối cùng.
Tôi chết.
Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu.
Xác tôi bị bọn chúng vớt lên, nhét vào một cái bao tải buộc đá tảng, bí mật chở ra khúc sông phía sau thị trấn. Bọn chúng ném tôi xuống Vực Câm.
Vực Câm là một đoạn sông kỳ lạ. Nước ở đây sâu thăm thẳm, đen ngòm, không bao giờ nghe tiếng sóng vỗ bờ, tĩnh lặng như một nấm mồ khổng lồ bằng nước. Dân gian truyền miệng rằng, bên dưới Vực Câm ẩn chứa một thủy âm mạch, nơi hội tụ âm khí ngàn năm của vạn vật trôi dạt dọc dòng Thanh Hà.
Bao tải chứa xác tôi chìm nghỉm, xuyên qua những tầng nước lạnh lẽo, chạm đến lớp bùn lầy tăm tối nhất ở đáy vực.
Lẽ ra, hồn phách tôi phải rời khỏi thể xác, bước lên con đường Hoàng Tuyền mịt mờ sương khói, uống bát canh Mạnh Bà để quên đi kiếp nhân sinh đau khổ. Nhưng không. Mệnh cách thuần âm của tôi, sinh vào giờ âm, ngày âm, tháng âm, lại chết oan uổng trong bể chàm nhuốm đầy phẫn hận, đã tạo ra một sự cộng hưởng hoàn hảo với thủy âm mạch dưới đáy Vực Câm.
Tôi không thấy lối đi nào cả. Tôi chỉ thấy bóng tối bao trùm, rồi từ trong bóng tối ấy, một nguồn sức mạnh lạnh lẽo, cuồn cuộn chảy tràn vào hồn phách tôi.
Tôi mở mắt. Không phải bằng đôi mắt phàm trần đã thối rữa, mà bằng nhận thức của một linh hồn.
Tôi nhìn thấy chính xác mình đang nằm dưới đáy bùn, làn da chuyển sang màu xanh chàm nhợt nhạt, mái tóc dài xõa tung theo dòng nước ngầm. Nhưng tôi không còn cảm thấy đau đớn, không còn cảm thấy lạnh lẽo. Bởi vì lúc này, thứ lạnh lẽo nhất, tăm tối nhất, chính là bản thân tôi.
Tôi cảm nhận được từng gợn sóng nhỏ trên mặt sông. Tôi nghe thấy tiếng lũ cá quẫy đuôi trốn chạy. Tôi vươn tay ra, và dòng nước tuân theo ý chí của tôi, cuộn lên thành những vòng xoáy nhỏ.
Tôi không chết. Tôi đã hòa làm một với thủy mạch. Tôi thành sông. Sông không cạn, hồn tôi không tán.
Ba ngày sau.
Trong Kiều phủ, mọi thứ dường như đã trở lại bình thường. Bà Hứa tung tin tôi trộm tiền bỏ trốn theo nhân tình, còn giả vờ khóc lóc vài tiếng trước mặt quan huyện để tỏ vẻ xót xa cho gia môn bất hạnh. Một cái tang giả được dựng lên loa qua loa, vài tấm vải trắng treo hờ hững trước cổng rồi nhanh chóng bị gỡ xuống. Kiều Trường Phong lại mặc áo gấm, điềm nhiên ra ngoài giao thương. Kiều Trường Huy lại ôm tiền đến sòng bài. Bọn chúng đinh ninh rằng, tội ác đã bị vùi sâu dưới đáy Vực Câm, vĩnh viễn không ai biết.
Nhưng bọn chúng quên mất một điều. Nước có thể che giấu mọi thứ, nhưng nước cũng có thể len lỏi vào bất cứ đâu.
Hiện tượng dị thường đầu tiên bắt đầu vào đêm thứ ba sau khi tôi chết.
Trời đang giữa tiết hạn hán, không có lấy một giọt mưa. Đêm khuya thanh vắng, bà Hứa thức dậy vì khát. Mụ ta thắp ngọn nến mờ ảo, bước ra giếng nước giữa sân, thả gàu múc lên một thùng nước. Khi mụ ta kề miệng bát sành định uống, mùi hôi thối nồng nặc xộc thẳng vào mũi. Bà Hứa giật mình, soi đuốc nhìn xuống thùng.
