Theo dõi phở để rùng mình trong đêm. Văn án: Bác cả là thầy phong thuỷ giỏi nhất mười dặm. Ông chọn huyệt đất cho cả làng. Nhưng chỉ có tôi nhìn thấy, dưới mỗi ngôi mộ ông đặt cho nhà mình, có một mạch máu đang chảy ngược. Năm người thân, năm ngôi mộ, năm dòng chảy đổ về một điểm. Và huyệt thứ sáu, nằm ngay dưới giường tôi ngủ.
Trời vừa hửng sáng, sương mù trên núi Thanh Thành vẫn còn đặc quánh như một bát cháo loãng nấu hỏng. Tôi lê bước chân tê cóng trên mặt sân lát gạch xám xịt, hai tay xách hai thùng nước lớn vừa múc từ cái giếng chung ở cuối xóm. Gió bấc thổi qua, cắt vào da thịt đau rát, nhưng tôi không dám dừng lại. Chỉ cần tôi bước chậm một nhịp, tiếng chửi bới quen thuộc sẽ lại vang lên.
Cánh cửa gỗ trạm trổ hoa văn tinh xảo của gian nhà chính bật mở. Bác gái tôi, Hà Thúy Bình, bước ra với chiếc áo khoác lụa nhung đắt tiền, trên cổ quấn hờ chiếc khăn lụa tơ tằm Tô Châu. Bà ta cau mày, ánh mắt lia qua người tôi sắc lẹm như dao cạo râu chưa bôi bọt.
“Con ôn thần kia! Mày lề mề cái gì thế hả? Nước nôi giờ này mới xách về, định để cả nhà chết khát hay sao?”
Tôi cúi gầm mặt, không đáp lời, lẳng lặng xách hai thùng nước đổ vào chum sành lớn góc bếp. Bác gái xót xa nhìn mấy giọt nước bắn ra ngoài nền gạch, giọng điệu the thé vang dội cả khu sân viện.
“Mày cẩn thận một chút không được à? Nền gạch này bác cả mày vừa nhờ người mang từ Quảng Châu về, một viên đáng giá mấy chục tệ đấy! Bán cả cái mạng quèn của mày đi cũng không đền nổi đâu! Đúng là cái đồ sao xấu chiếu mệnh, sinh ra đã khắc chết mẹ ruột, giờ lại muốn phá hoại cái nhà này!”
Tôi cắn chặt môi, vặn chiếc khăn lau bếp cho kỳ khô. Bà ta nói đúng một nửa. Tôi sinh ra trong đêm nguyệt thực, ngôi thai ngược, chân ra trước. Mẹ tôi băng huyết mà chết ngay trên giường đẻ. Người làng đồn đại rằng, khoảnh khắc giữa lúc chân tôi chạm đất và cất tiếng khóc chào đời, tôi đã đi dạo một vòng dưới cõi âm rồi mới chịu quay lại. Bọn họ nói tôi mang theo xui xẻo. Bác gái tin điều đó sái cổ. Bà ta hận không thể tống cổ tôi ra khỏi nhà, nhưng người giữ tôi lại, trớ trêu thay, lại là chồng bà ta. Bác cả Lục Bảo Sinh.
Nhắc Tào Tháo, Tào Tháo xuất hiện. Bác cả vén rèm bước ra khỏi phòng trà. Ông ta năm mươi sáu tuổi, mặc bộ trường bào màu xám tro kiểu cổ, râu ria cắt tỉa gọn gàng, tay vuốt ve chuỗi tràng hạt bằng gỗ tử đàn. Trông ông ta uy nghiêm, đức độ, tỏa ra khí chất của một bậc chân tu thoát tục. Ở cái vùng ngoại ô Thành Đô này, Lục Bảo Sinh là một cái tên không ai không biết. Thầy phong thủy giỏi nhất mười dặm, người chuyên xem mạch đất, chọn huyệt mộ cho người chết, xoay hướng nhà cho người sống. Dân làng kính nể ông ta như thần thánh giáng trần.
“Bà ồn ào cái gì vào lúc sáng sớm thế?”
Bác cả cất giọng trầm ấm, nhưng ánh mắt lại lạnh toát.
Bác gái lập tức thu lại vẻ nanh nọc, thay bằng nụ cười nịnh nọt, cái lưng hơi khom xuống. Nụ cười của bà ta chuyển kênh nhanh đến mức tôi tự hỏi có phải bà ta vừa bấm nút trên điều khiển từ xa hay không.
“Ông dậy rồi à? Tôi đang dạy dỗ con Dạ Minh một chút. Con bé này càng lớn càng lười biếng, làm việc thì chậm chạp, chỉ sợ làm hỏng danh tiếng gia phong nhà họ Lục chúng ta.”
Bác cả liếc nhìn tôi một cái. Ánh mắt ông ta quét qua người tôi không mang theo chút tình thân nào, mà giống như một gã lái buôn đang đánh giá một món hàng sắp đến ngày xuất chuồng.
“Nó mười sáu tuổi rồi, bà để nó làm việc vừa phải thôi. Sắp tới… nhà ta còn nhiều việc cần đến nó.”
Bác cả nói chậm rãi, từng chữ nhả ra mang theo ý tứ sâu xa.
Tôi rùng mình. Không phải vì gió lạnh, mà vì một luồng khí u ám vừa cuộn lên từ dưới nền gạch nơi bác cả đang đứng.
Đó là bí mật lớn nhất của tôi. Bí mật mà tôi giấu kín suốt mười năm qua, sâu hơn cả cách người ta giấu tiền riêng dưới đáy tủ. Tôi nhìn thấy những thứ mà người bình thường không thể thấy.
Từ khi còn rất nhỏ, đôi mắt tôi đã có thể nhìn xuyên qua nhiều lớp đất đá, thấy những dòng khí mờ ảo uốn lượn bên dưới. Bác cả gọi đó là “địa khí”, hay mạch phong thủy. Trong mắt tôi, chúng giống như những mạch máu khổng lồ của trái đất, phát ra ánh sáng mờ nhạt, trôi chảy theo quy luật tự nhiên, uốn lượn quanh móng nhà, luồn lách dưới mồ mả. Một dòng mạch tốt sẽ có màu vàng nhạt ấm áp, mang lại sinh khí. Một dòng mạch xấu sẽ mang màu xám xịt.
Nhưng lúc này, bên dưới đôi chân mang giày vải của bác cả, dòng địa khí đang cuộn lên một màu đỏ thẫm như máu bầm. Nó không chảy theo hướng tự nhiên, mà bị xoắn lại, méo mó, rỉ ra sự tà ác đến nghẹt thở.
“Dạ Minh! Mày điếc à? Dọn bữa sáng ra mau!”
Tiếng quát của Lục Dật Dương cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi. Anh họ tôi, mười chín tuổi, là cục vàng cục bạc của cái nhà này. Hắn xông ra từ phòng ngủ, đầu tóc bù xù, ngáp ngắn ngáp dài, mặc bộ đồ ngủ lụa đắt tiền. Dật Dương sở hữu bộ não láng mịn hơn cả đĩa sứ Cảnh Đức và một nhân cách mục nát đến tận gốc rễ. Hắn coi tôi như một thứ đồ chơi tiêu khiển, một con thú cưng để sai vặt.
Tôi lầm lũi bưng mâm đồ ăn sáng lên bàn. Cháo tổ yến cho bác cả, há cảo hấp thịt tôm cho bác gái và Dật Dương. Còn phần của tôi, như thường lệ, là một bát cháo trắng loãng toẹt và nửa củ cải muối thừa từ tối hôm trước.
Dật Dương gắp một miếng há cảo, nhai nhóp nhép, âm thanh vang dội như lợn rừng nhai nấm. Hắn nhổ toẹt miếng vỏ bánh xuống gạch, hất cằm về phía tôi.
“Ê con hầu. Lát nữa ra bờ suối giặt sạch đôi giày thể thao cho tao. Giặt bằng tay, cấm dùng bàn chải cứng làm xước da. Giặt không sạch tao bắt mày liếm cho bằng sạch thì thôi.”
Tôi gật đầu, câm lặng như một tảng đá. Tôi đã quen với việc này. Nhẫn nhục, chịu đựng, không phản kháng. Nếu tôi cãi lại, bác gái sẽ cắt cơm ba bữa, còn Dật Dương sẽ tìm cớ đánh tôi bầm giập. Bác cả sẽ chỉ đứng nhìn, buông vài câu đạo lý rỗng tuếch rồi bỏ đi.
Tôi ăn vội bát cháo, dọn dẹp bát đĩa rồi xách chậu quần áo ra bờ suối sau nhà. Nước suối mùa thu lạnh buốt thấu xương. Hai bàn tay tôi đỏ ửng, nứt nẻ, rướm máu. Nhưng nỗi đau thể xác này chẳng thấm vào đâu so với nỗi sợ hãi đang gặm nhấm tâm trí tôi.
Tôi nhớ lại sự kiện xảy ra vào năm tôi lên tám tuổi. Lúc đó, tôi vẫn là một đứa trẻ ngây thơ, chưa hiểu hết sự hiểm ác của lòng người. Một buổi chiều, khi bác cả đang hí hoáy vẽ bản đồ phong thủy trong sân, tôi đã chạy đến, chỉ tay xuống mảnh sân gạch và nói:
“Bác ơi, dưới kia có mấy đường sáng màu xám đang chảy ngoằn ngoèo, nhưng sao nó lại đứt đoạn thế kia?”
Bác cả khựng lại. Cây bút lông trên tay ông ta rơi xuống đất, tạo thành một vệt mực đen ngòm. Ông ta quay phắt lại, đôi mắt trợn trừng, hằn lên những tia máu đỏ sọc. Bàn tay to bè của ông ta vung ra, bóp chặt lấy cổ tôi, nhấc bổng tôi lên khỏi mặt đất.
Tôi còn nhớ rõ cảm giác ngạt thở lúc đó. Chân tôi giãy giụa giữa không trung. Khuôn mặt đạo mạo của bác cả biến thành một con ác quỷ tàn độc. Ông ta ghé sát mặt vào tôi, hơi thở lạnh ngắt, giọng nói rít qua kẽ răng.
“Mày vừa nói cái gì? Mày nhìn thấy cái gì? Câm miệng ngay! Tuyệt đối không được nói với bất kỳ kẻ nào! Nếu mày còn dám hé môi nửa lời, người ta sẽ đem mày đi chôn sống! Hiểu chưa?”
Ông ta ném tôi xuống đất cái rầm. Tôi ho sặc sụa, cổ họng đau rát, nước mắt giàn giụa, chỉ biết gật đầu lia lịa. Kể từ ngày đó, tôi khóa chặt miệng mình lại. Tôi giả vờ như mình là một con ngốc, một đứa con ở câm lặng, cam chịu mọi sự hành hạ. Tôi học cách che giấu khả năng của mình, chỉ dám âm thầm quan sát những dòng địa khí chảy dưới chân.
Nhưng tôi không hề biết rằng, chính cái khoảnh khắc tôi lỡ lời năm tám tuổi ấy, bác cả đã đưa ra một quyết định tàn khốc định đoạt số phận của tôi.
Gần trưa, tôi mang chậu quần áo đã giặt sạch phơi lên sào trúc. Vừa bước vào sân, tôi đã thấy một chiếc xe sang trọng màu đen bóng loáng đỗ xịch trước cổng. Một người đàn ông trung niên béo phệ, mặc đồ vest đắt tiền, bước xuống xe, xách theo hai hộp quà lớn. Đó là ông Trần, một thương gia giàu có từ Thượng Hải lặn lội đến tận vùng núi này để nhờ bác cả xem hướng xây khu nghỉ dưỡng trên núi.
Bác cả đón khách trong phòng trà, phong thái ung dung, tay rót trà Thiết Quan Âm thơm lừng. Tôi lúi húi lau bậc thềm bên ngoài, vểnh tai nghe ngóng.
“Lục đại sư, ngài xem giúp tôi mảnh đất ở phía nam ngọn núi. Đám kiến trúc sư nói chỗ đó phong thủy cực tốt, tựa núi nhìn sông, vượng khí ngút trời.”
Bác cả nhấp một ngụm trà, nhắm hờ mắt, ngón tay gõ nhịp nhàng lên mặt bàn gỗ trắc.
“Trần tổng, đám kiến trúc sư của ngài chỉ biết nhìn bề nổi. Chỗ đó đúng là tựa núi nhìn sông, nhưng mạch đất bên dưới lại là mạch ‘Phá Quân’. Nếu ngài xây khu nghỉ dưỡng ở đó, không quá ba tháng, công trường sẽ liên tục xảy ra tai nạn, tiền tài đội nón ra đi. Khí tốt đã bị ngọn núi chắn ngang, khí xấu tụ lại thành vũng lầy. Chỗ đó, gọi là ‘tuyệt địa’.”
Ông Trần toát mồ hôi hột, liên tục rút khăn tay lau trán, vội vàng đẩy một phong bì dày cộp lên bàn.
“Đại sư cứu tôi! Xin đại sư chỉ điểm một vị trí khác. Mười vạn tệ này chỉ là chút lòng thành tiền trà nước, xong việc tôi sẽ hậu tạ thêm!”
Bác cả mỉm cười từ tốn, dùng tay áo che đi động tác cất phong bì vào ngăn kéo, mượt mà như nước chảy mây trôi. Ông ta bắt đầu thao thao bất tuyệt về bát quái, ngũ hành, về những thuật ngữ phong thủy cao siêu khiến ông khách gật gù như gà mổ thóc.
Tôi đứng ngoài hiên, nhếch mép cười lạnh lẽo. Vượng khí? Tuyệt địa? Toàn là những lời dối trá lừa lọc. Bác cả có tài phong thủy, điều đó không sai. Nhưng ông ta dùng nó để bòn rút tiền của thế gian, và dùng những cấm thuật tàn độc nhất để thỏa mãn lòng tham vô đáy của mình.
Chiều tối hôm đó, một cơn mưa lớn ập xuống.
Nước mưa trút xuống mái ngói rầm rập, xói mòn lớp đất đỏ quạch ngoài sân. Tôi trở về căn phòng nhỏ xíu, ẩm thấp của mình ở cuối dãy nhà ngang. Đó vốn là một cái kho chứa củi, được dọn dẹp sơ sài kê thêm một chiếc giường ván gỗ cứng ngắc.
Tôi mệt lả người, vừa ngả lưng xuống giường chưa được bao lâu thì biến cố xảy ra.
Một nhịp đập truyền lên từ dưới sàn nhà.
Ban đầu, tôi tưởng đó là sấm sét, hoặc dư chấn của một trận động đất nhỏ. Nhưng không phải. Nhịp rung ấy rất đều đặn, chậm rãi, thịch… thịch… thịch… giống như tiếng tim đập của một sinh vật khổng lồ đang say ngủ dưới lòng đất sâu.
Tôi bật dậy, áp sát tai xuống nền gạch nứt nẻ. Mồ hôi lạnh toát ra dọc sống lưng.
Tôi nhắm mắt lại, tập trung tinh thần, mở ra khả năng nhìn thấu địa khí. Cảnh tượng hiện ra trước mắt khiến tôi suýt hét lên thành tiếng.
Mạch địa khí bên dưới phòng tôi, vốn là một dòng khí màu xanh nhạt yếu ớt, giờ đây đang đổi màu. Nó chuyển sang màu đỏ sẫm, đặc quánh như máu đông. Và điều kinh khủng nhất là: nó đang chảy ngược.
Mọi mạch đất tôi từng thấy trong đời đều chảy theo quy luật tự nhiên, từ cao xuống thấp, từ nơi tụ khí đến nơi tán khí. Nhưng dòng mạch dưới chân tôi lúc này đang bị một lực hút vô hình kéo lệch đi. Nó chảy ngược hướng, đâm thẳng về phía gian nhà chính, chính xác là hướng về phía phòng thờ tổ tiên của bác cả.
Cùng lúc đó, một thứ mùi kỳ lạ xộc thẳng vào mũi tôi. Không phải mùi ẩm mốc của phòng chứa củi, mà là mùi đất mồ. Mùi của bùn đất vừa được đào lên từ một huyệt mộ mới tinh, nồng nặc, tanh tưởi, mang theo hơi lạnh của xác chết.
Và rồi, ở rìa tri giác, tôi nghe thấy một âm thanh.
Không phải tiếng người. Nó là tiếng đá tảng nghiền vào nhau, tiếng rễ cây đứt gãy dưới lòng đất sâu thẳm, nhưng lại kỳ diệu ghép lại thành những từ ngữ vỡ vụn, vang vọng ngay trong đầu tôi.
“Sáu mạch… đã bị quay… cân bằng vỡ…”
Tôi co rúm người lại ở góc giường, hai tay bịt chặt tai, lồng ngực phập phồng dữ dội. Âm thanh đó không đi qua màng nhĩ, nó truyền trực tiếp từ mặt đất lên xương cốt tôi.
“Kẻ đánh cắp… lấy thọ nguyên… oán khí tụ…”
Tôi thở dốc. Thổ Phủ. Đó là tiếng vọng từ Thổ Phủ, thế lực cai quản địa mạch dưới lòng đất. Họ không hiện hình, không can thiệp trực tiếp vào dương gian, nhưng họ đang phẫn nộ vì cân bằng bị phá vỡ.
Tôi thức trắng đêm đó, trừng trừng nhìn xuống nền nhà, nhìn dòng máu đỏ sẫm đang bị hút về phía phòng thờ. Một nỗi hoang mang kinh hoàng dần hình thành trong đầu tôi.
Sáng hôm sau, mưa tạnh. Trời vẫn âm u. Tôi múc nước rửa mặt, cố che giấu quầng thâm dưới mắt. Khi tôi bước vào phòng ăn, một chuyện kỳ lạ chưa từng có đã xảy ra.
Bác cả đang ngồi ở bàn, trước mặt ông ta là một bát canh gà hầm nhân sâm bốc khói nghi ngút. Ông ta ngẩng lên nhìn tôi, khóe môi nhếch lên tạo thành một nụ cười hiền từ đến mức khiến dạ dày tôi quặn thắt.
“Dạ Minh, lại đây ngồi đi con. Bữa sáng nay bác bảo nhà bếp hầm canh gà. Con dạo này gầy gò quá, phải bồi bổ thêm. Ăn đi cho nóng.”
Tôi đứng chôn chân tại chỗ, ngỡ ngàng. Suốt mười năm qua, số lần ông ta gọi tên tôi đếm chưa hết một bàn tay, nói gì đến việc cho ăn canh gà nhân sâm.
Bác gái Hà Thúy Bình ngồi cạnh đó, mặt mày sầm sì như bầu trời sắp bão. Bà ta trừng mắt nhìn bát canh, rồi lại lườm tôi, nghiến răng kèn kẹt. Dật Dương thì bận chơi trò chơi điện tử trên điện thoại di động, thỉnh thoảng chửi bới ỏm tỏi, chẳng buồn quan tâm đến sự đời.
“Bác cả… con… con ăn cháo được rồi.”
Tôi diễn tròn vai một đứa cháu gái nhút nhát, sợ sệt.
“Bảo ăn thì cứ ăn đi.”
Bác cả vỗ vỗ xuống chiếc ghế trống bên cạnh. “Nhà họ Lục chúng ta đâu đến mức để con cháu phải chịu đói khát. Con cứ coi đây như nhà của mình, không phải sợ ai cả.”
Coi đây như nhà của mình? Lời nói đó vang lên êm ái, nhưng rơi vào tai tôi lại lạnh buốt như băng.
Tôi rụt rè ngồi xuống, múc từng thìa canh nhỏ. Nước canh ngọt lịm, nhưng nuốt trôi qua họng lại đắng nghét. Bác cả tiếp tục nở nụ cười nhân từ đóng kịch.
“Lát nữa bác sẽ dặn người hầu mang cho con một cái chăn bông mới. Mùa đông sắp đến rồi, cái phòng đó hơi lạnh. Bác cũng để sẵn một chiếc la bàn phong thủy nhỏ dưới gầm giường con đấy. Chỗ con nằm âm khí hơi nặng, có cái la bàn đó trấn áp, con sẽ ngủ ngon giấc hơn, coi như là bùa bình an bác tặng con.”
Choang!
Bác gái đập mạnh đôi đũa ngọc bích xuống bàn, đứng phắt dậy, ngực phập phồng vì tức giận.
“Lục Bảo Sinh! Ông bị điên rồi sao? Tự nhiên lại đối xử tốt với cái con ôn thần này? Ông định làm gì? Cho nó ăn ngon, đắp chăn ấm, tặng bùa bình an? Ông muốn nuôi nó béo tốt để làm gì? Hay là ông định bán nó cho lão già họ Vương ở Thâm Quyến lấy mười lăm vạn tệ tiền sính lễ? Lão ta già khú đế, sắp xuống lỗ rồi, ông gả nó đi để ôm tiền à?”
Bà ta hít một hơi thật sâu, ánh mắt chuyển sang nghi ngờ tột độ, giọng the thé vỡ vụn.
“Hay là… hay là ông nhắm trúng cái bản mặt hồ ly tinh của nó, muốn nuôi nó làm lẽ? Tôi nói cho ông biết, Hà Thúy Bình này chưa chết đâu!”
Bác cả tối sầm mặt lại. Ông ta đập mạnh tay xuống bàn, gầm lên.
“Câm miệng! Đàn bà ngu xuẩn, biết cái gì mà nói bậy bạ! Ta làm việc tự có tính toán của ta, không đến lượt bà xen vào!”
Bác gái mím chặt môi, nước mắt tức tưởi rưng rưng, vùng vằng bỏ về phòng ngủ, đóng cửa rầm một tiếng.
Dật Dương lúc này mới ngẩng đầu lên khỏi màn hình điện thoại, ném cho tôi một ánh mắt khinh bỉ tột độ.
“Mày nốc nhanh lên rồi đi cọ cái nhà vệ sinh cho tao. Ra vẻ tiểu thư đài các cái nỗi gì. Rẻ rách.”
Nói rồi, hắn cũng hậm hực bỏ đi.
Chỉ còn lại tôi và bác cả trong phòng ăn. Ông ta vuốt lại nếp áo, lấy lại vẻ điềm tĩnh, mỉm cười nhìn tôi.
“Bác gái con tính tình nóng nảy, con đừng để bụng. Cứ yên tâm ở lại đây, ngoan ngoãn nghe lời, bác sẽ lo cho con đàng hoàng.”
Tôi cúi đầu, ngoan ngoãn gật nhẹ. Nhưng trong lòng tôi, một trận bão lốc đang càn quét.
Bác gái quả thực có bộ não của một con lợn hâm hấp. Bà ta ghen tuông vớ vẩn, nghĩ rằng chồng mình đang ủ mưu bán cháu gái lấy tiền sính lễ, hoặc tệ hơn là nuôi làm vợ lẽ. Bà ta sợ mất tiền, sợ mất vị thế phu nhân nhà họ Lục.
Bà ta hoàn toàn mù tịt. Bà ta không nhìn thấy dòng máu đỏ sẫm đang chảy ngược dưới lòng đất. Bà ta không ngửi thấy mùi tử khí. Bà ta chỉ sợ mất đi sự xa hoa, còn tôi, tôi biết chắc chắn rằng, mình sắp mất mạng.
Sự dịu dàng đột ngột của bác cả, bát canh gà, chiếc chăn bông mới, và đặc biệt là chiếc la bàn “trấn an” đặt dưới gầm giường… tất cả không phải là lòng tốt. Đó là một nghi thức. Một thủ đoạn ép buộc tâm lý. Ông ta đang cố gắng khiến tôi cảm thấy an toàn, khiến tôi “tự nguyện” coi cái chuồng củi đó là nhà, để tôi thư giãn, không đề phòng.
Bởi vì một huyệt phong thủy chỉ thực sự phát huy tác dụng đoạt mạng khi nạn nhân nằm trên đó trong trạng thái tự nguyện an cư.
Ba ngày sau, cơ hội tìm kiếm sự thật đã đến.
Bác cả nhận một mối làm ăn lớn ở tỉnh bên, phải đi vắng hai ngày. Bác gái rủ mấy mụ bạn giàu có đi đánh mạt chược ở trung tâm thành phố Thành Đô. Dật Dương thì tụ tập đám bạn lưu manh đi đua xe, uống rượu ở quán bar xuyên đêm.
Ngôi nhà rộng lớn vắng lặng như một nấm mồ.
Đúng mười hai giờ trưa, khi dương khí mạnh nhất, tôi cầm chổi lông gà, lấy cớ dọn dẹp để bước vào khu vực cấm địa của ngôi nhà: Phòng thờ tổ tiên.
Cánh cửa gỗ lim nặng nề mở ra, phát ra tiếng cọt kẹt rợn người. Bên trong phòng thờ tối om, các ô cửa sổ đều bị bịt kín bằng rèm nhung đen. Mùi nhang trầm khói tỏa nghi ngút, quyện với một thứ mùi ngai ngái khó tả. Trên bàn thờ lớn bằng gỗ gụ là bài vị của các bậc tiền bối nhà họ Lục.
Nhưng điều khiến tôi chú ý không phải là những tấm bài vị, mà là dòng địa khí bên dưới căn phòng.
Tôi nhắm mắt lại. Dưới nền gạch Bát Tràng, năm dòng khí màu đỏ thẫm như năm con rắn khổng lồ đang trườn tới, xoắn xuýt vào nhau, chui tọt vào một điểm duy nhất nằm ngay dưới gầm bàn thờ. Điểm đó tỏa ra một lực hút điên cuồng, nuốt chửng mọi sinh khí xung quanh.
Tôi mở bừng mắt, tiến lại gần bàn thờ. Tôi quỳ xuống, chui nửa người vào gầm bàn. Nơi đó tối đen như mực. Tôi lần mò trên mặt đất, phát hiện một viên gạch lát nền bị lỏng. Dùng chiếc đục nhỏ giấu sẵn trong túi, tôi cạy viên gạch lên.
Bên dưới viên gạch là một hộc ngầm nhỏ xíu, được lót bằng lụa vàng. Bên trong hộc ngầm là một cuốn sổ tay bọc da cũ kỹ và một tấm bản đồ da cừu cuộn tròn.
Tôi cẩn thận rút tấm bản đồ ra, trải phẳng trên mặt sàn.
Tim tôi đập loạn nhịp, tưởng chừng như sắp nhảy vọt ra khỏi lồng ngực.
Đó là bản đồ phong thủy của toàn bộ khu vực ngọn núi và ngôi làng này, được vẽ cực kỳ chi tiết bằng mực đen. Nhưng điều đáng sợ là những vết đánh dấu bằng mực chu sa đỏ tươi.
Trên bản đồ khoanh tròn sáu điểm. Sáu điểm này tạo thành một hình lục giác khép kín, bao trọn lấy toàn bộ địa mạch của vùng đất.
Tôi nhìn kỹ từng điểm một. Mồ hôi lạnh túa ra ướt đẫm trán, sống lưng lạnh toát như đang bị ép vào một tảng băng.
Điểm thứ nhất, nằm ở sườn Đông ngọn núi. Bị gạch chéo một nét đỏ. Đó là vị trí mộ của cha tôi. Cha tôi chết mười năm trước, trong một vụ tai nạn sập hầm đá vô cùng kỳ lạ.
Điểm thứ hai, nằm ven con suối phía Bắc. Bị gạch chéo. Vị trí mộ mẹ tôi. Bà băng huyết qua đời vào cái đêm tôi ra đời.
Điểm thứ ba, nằm ở gò đất cao phía Tây. Bị gạch chéo. Vị trí mộ bà nội. Bà đột tử trong giấc ngủ sáu năm trước, bác cả bảo là do tuổi cao sức yếu.
Điểm thứ tư, nằm ở khu rừng trúc. Bị gạch chéo. Vị trí mộ chú Hai. Chú ngã gãy cổ khi đi đốn củi bốn năm trước.
Điểm thứ năm, nằm ở chân đồi. Bị gạch chéo. Vị trí mộ anh trai ruột của tôi. Anh ấy đuối nước dưới ao làng hai năm trước, dù anh bơi giỏi như rái cá.
Năm người thân ruột thịt. Năm cái chết “tự nhiên” hoặc “tai nạn” rải rác suốt mười năm. Chôn cất tại năm vị trí tạo thành năm mấu neo phong thủy.
Tôi run rẩy lật cuốn sổ tay bọc da bên cạnh. Những dòng chữ viết tay bằng bút máy của bác cả hiện ra rõ ràng.
“Cấm thuật: Nghịch Mạch Phong Thủy.
Mượn mạng người thân, lập mấu neo trận pháp. Ép địa mạch chảy ngược, tụ khí về trung tâm.
Hút thọ nguyên, đoạt phúc phần của huyết thống để đắp đổi cho bản thân trường sinh bất lão, phú quý ngút trời.
Yêu cầu: Đủ sáu huyệt nhân thân. Kẻ thế mạng phải cư ngụ tại mấu neo, tâm trí thư thái, tự nguyện coi đó là nhà. Oán khí của vong linh sẽ là nhiên liệu, thọ nguyên của kẻ sống sẽ là chìa khóa mở trận.”
Tôi thở hắt ra một hơi, tầm nhìn mờ đi vì phẫn nộ và kinh hoàng.
Mười năm. Suốt mười năm qua, vị đại sư đạo mạo, được cả vùng kính trọng, đã tự tay sắp xếp cái chết cho từng người thân ruột thịt của mình. Ông ta không phải là con người. Ông ta là một con quỷ hút máu đội lốt thánh nhân.
Ánh mắt tôi di chuyển đến điểm thứ sáu trên bản đồ.
Điểm duy nhất chưa bị gạch chéo.
