Theo dõi phở để rùng mình trong đêm. Văn án: Mười bốn năm trước, ngọn hải đăng trên đảo Thanh Loa vụt tắt trong đêm bão. Người canh đèn chết dưới chân cầu thang. Con gái ông hóa điên. Đứa cháu gái mười tuổi bị đưa vào đất liền và được dặn: đừng bao giờ quay lại. Mười bốn năm sau, người mẹ điên chết trên giường bệnh, để lại một căn phòng đầy tranh vẽ mà không ai hiểu nổi. Trình Dạ Lam trở về hòn đảo chỉ có một chuyến phà mỗi tuần — nơi cô phát hiện rằng thứ đáng sợ nhất không phải hồn ma dưới đáy biển, mà là những nụ cười trên bờ.
Mùi muối biển trộn lẫn với mùi dầu máy rỉ sét xộc thẳng vào khoang mũi, mang theo cái lạnh thấu xương của vùng biển phía Bắc. Đứng trên boong chiếc phà chở khách cũ nát đang chao đảo giữa những con sóng bạc đầu, tôi kéo cao cổ chiếc áo khoác chắn gió, đôi mắt ghim chặt vào khối sương mù đặc quánh phía trước. Xuyên qua màn sương ấy, hòn đảo Thanh Loa dần hiện ra, u ám và câm lặng như một nấm mồ khổng lồ nổi lềnh bềnh trên mặt đại dương.
Chiếc phà rên xiết từng nhịp, âm thanh cọt kẹt của kim loại ma sát vào nhau nghe hệt như tiếng một ông lão ho lao đang cố leo dốc. Tôi năm nay hai mươi tư tuổi, hiện là nghiên cứu sinh ngành hải dương học tại một trường đại học trọng điểm ở thành phố Hạ Môn. Một tuần trước, tôi vẫn còn đang cắm mặt vào đống tài liệu nghiên cứu dòng chảy đại dương, tính toán xem tháng tới phải xoay xở thế nào với số tiền học bổng vỏn vẹn vài vạn nhân dân tệ. Thế rồi, một cuộc gọi từ số máy lạ mọc lên giữa đêm khuya đã xé toạc cuộc sống bình yên giả tạo mà tôi cất công xây dựng.
Người ta báo tin mẹ tôi — Trình Vân Hà — đã qua đời.
Suốt mười bốn năm trời, tôi chưa từng một lần đặt chân trở lại hòn đảo này. Không phải vì khoảng cách bốn giờ đồng hồ đi phà, cũng chẳng phải vì lịch trình mỗi tuần chỉ có đúng một chuyến tàu duy nhất nối liền hòn đảo với đất liền. Tôi không về, vì đó là lời dặn cuối cùng, hay đúng hơn là lời gào thét tuyệt vọng của mẹ tôi trước khi bà bị đám đông tống vào căn buồng giam lỏng.
Và cũng vì, tôi hèn nhát.
Ký ức của đứa trẻ mười tuổi năm xưa vẫn luôn là một lưỡi dao sắc lẹm, mỗi lần nhắm mắt lại rạch những nhát sâu hoắm vào tâm trí tôi. Đêm đó bão lớn. Tiếng sấm rền vang. Tiếng thủy tinh vỡ toang hoác. Và khi tôi run rẩy trèo lên những bậc cầu thang xoắn ốc của ngọn hải đăng, thứ chào đón tôi là thân ảnh cứng đờ của ông ngoại — Trình Hải Thanh — nằm vắt vẻo dưới chân bậc thang, máu tuôn lênh láng. Buổi chiều hôm ấy, tôi đã lén vào phòng điều khiển nghịch phá hệ thống công tắc. Ngọn đèn biển vụt tắt giữa đêm bão. Tôi luôn tin rằng chính bàn tay ngu ngốc của mình đã gây ra sự cố, khiến ông ngoại phải vội vã leo lên sửa chữa rồi trượt chân ngã mất mạng. Cảm giác tội lỗi ấy giống như một khối chì đặc, đè nặng lên buồng phổi tôi suốt hơn một thập kỷ, khiến tôi không dám đối diện với mẹ, không dám nhìn về phía đại dương.
Tiếng còi phà vang lên khàn đục, cắt đứt dòng suy nghĩ miên man. Chiếc phà chậm chạp cập vào bến cảng bằng đá loang lổ rêu xanh. Tôi xách chiếc vóc lết cồng kềnh bước xuống tấm ván gỗ ọp ẹp. Chào đón tôi không phải là sự tĩnh lặng của một làng chài hẻo lánh, mà là một đám đông đứng sẵn trên cầu cảng. Bọn họ mặc áo khoác sẫm màu, khuôn mặt ai nấy đều mang chung một biểu cảm: tiếc thương một cách bài bản.
Đứng tách biệt hẳn lên phía trước là Mã Kiến Trung — trưởng thôn của đảo Thanh Loa. Ông ta năm nay khoảng năm mươi bảy tuổi, dáng người đậm chắc, khuôn mặt chữ điền với những nếp nhăn xếp lớp khắc khổ, mang đậm nét hiền hậu của một người cả đời bám biển. Thế nhưng, nếu bạn nhìn kỹ vào đôi mắt ông ta, bạn sẽ thấy nó tĩnh lặng và lạnh lẽo đến mức rợn người, hệt như mặt biển trước cơn bão. Nụ cười trên môi ông ta được đo đạc cẩn thận đến mức tôi dám chắc nếu có thước đo góc ở đây, nó sẽ chỉ đúng một con số hoàn hảo.
Ông ta bước tới, đôi bàn tay thô ráp giơ ra định vỗ lên vai tôi, nhưng tôi khéo léo nghiêng người né tránh. Bàn tay ông ta khựng lại giữa không trung nửa giây, rồi rất tự nhiên thu về, vuốt lại nếp áo.
“Dạ Lam đấy à? Ôi chao, con gái lớn ngần này rồi. Đi đường xa gió lớn, chắc con mệt lắm. Chuyện của mẹ con… cả đảo đều rất đau lòng. Bà con đã lo liệu tang lễ chu toàn cả rồi, con đừng quá bi thương kẻo sinh bệnh.”
Giọng nói của ông ta trầm ấm, vang lên giữa tiếng sóng vỗ bờ, nghe sao mà từ bi đức độ. Tôi đưa mắt lướt qua đám đông phía sau ông ta. Những khuôn mặt mờ nhạt, những ánh mắt lấm lét đảo quanh. Bọn họ thì thầm to nhỏ, nhưng tuyệt nhiên không một ai bước lên an ủi tôi. Sự e dè của bọn họ không giống như đang thương xót một đứa trẻ mồ côi, mà giống như đang quan sát một sinh vật lạ mang mầm bệnh.
Tôi hít một hơi thật sâu, nén chặt sự khinh bỉ vào tận đáy lòng, lên tiếng đáp lời.
“Cháu cảm ơn chú Trung, cảm ơn bà con. Trăm sự nhờ mọi người giúp đỡ, cháu mới có thể về kịp nhìn mẹ lần cuối.”
Tôi diễn tròn vai một đứa con gái yếu đuối, ngoan ngoãn. Mã Kiến Trung gật gù hài lòng. Cái đầu ông ta lắc lư nhẹ, hệt như một món đồ chơi dây cót được lập trình sẵn. Ngay lúc đó, một người đàn ông trung niên rẽ đám đông bước ra. Ông ta trạc bốn mươi hai tuổi, dáng người gầy gò, chân trái bước đi khập khiễng, tạo ra âm thanh lết giày xột xoạt trên mặt đá rêu phong.
Đó là Hạ Trọng Nghĩa. Tôi biết ông ta. Hồi tôi còn nhỏ, ông ta thường xuyên đến nhà giúp ông ngoại sửa lưới. Nghe nói năm mười hai tuổi, ông ta bị ngã xuống biển, chính ông ngoại tôi đã lao xuống vùng nước xoáy cứu mạng, đổi lại chân trái của ông ta bị va đập vào đá ngầm để lại tật nguyền vĩnh viễn.
Hạ Trọng Nghĩa bước tới trước mặt tôi, đôi mắt đỏ hoe, hốc hác, mang theo vẻ tiều tụy chân thực nhất trong số tất cả những kẻ đang đứng ở bến cảng này. Ông ta run rẩy thò tay vào túi áo khoác sờn rách, lấy ra một chiếc khăn quàng cổ bằng len màu xám tro, rụt rè đưa cho tôi.
“Cháu gái… chú là Hạ Trọng Nghĩa. Chắc cháu không nhớ chú đâu. Đây là chiếc khăn mẹ cháu hay quàng lúc trở trời. Chú… chú đã cố gắng chăm sóc bà ấy, nhưng bệnh tình trở nặng quá nhanh. Chú xin lỗi…”
Tôi nhận lấy chiếc khăn. Mùi thuốc lá rẻ tiền ám trên lớp len cũ kỹ, xen lẫn một mùi ngai ngái kỳ lạ. Tôi nhìn thẳng vào mắt Hạ Trọng Nghĩa. Sự ân hận và đau khổ trong mắt ông ta không giống như đang diễn. Nó sâu thẳm, giằng xé, như thể ông ta đang gánh trên vai một tội ác tày trời chứ không đơn thuần chỉ là sự bất lực trước cái chết của một người bệnh. Vô thức, một tia tin tưởng yếu ớt nhen nhóm trong lòng tôi. Nếu trên hòn đảo khép kín và thối nát này còn một người mang ơn gia đình tôi, thì có lẽ đó chính là người đàn ông khập khiễng này.
“Chú Nghĩa, cháu nhớ chú. Cảm ơn chú đã thay cháu kề cận mẹ cháu suốt những năm qua.”
Tôi nhẹ giọng nắm lấy bàn tay thô ráp của ông ta. Thế nhưng, khoảnh khắc tôi vừa chạm vào, Hạ Trọng Nghĩa giật nảy mình như bị điện giật, vội vã rụt tay lại, ánh mắt hoảng loạn liếc nhanh về phía Mã Kiến Trung. Trưởng thôn Mã vẫn giữ nguyên nụ cười từ ái, nhưng ánh mắt ông ta lúc này đã sắc như dao cạo, ghim chặt vào Hạ Trọng Nghĩa. Sự hoảng sợ tột độ hiện rõ trên khuôn mặt người đàn ông què, ông ta lùi lại mấy bước, cúi gằm mặt xuống đất không dám nói thêm nửa lời.
Một màn kịch câm hoàn hảo. Tôi ghi nhận từng biến đổi nhỏ nhất trong thái độ của bọn họ, cất gọn vào ngăn kéo phân tích trong não bộ. Không giải thích, không vạch trần. Tôi chỉ lẳng lặng vác hành lý, bước theo sự dẫn đường của đám đông về phía ngôi nhà cũ nằm chênh vênh ở sườn đồi phía Đông đảo.
Ngôi nhà xây bằng đá bazan đen kịt, lọt thỏm giữa những vạt cỏ tranh úa vàng. Cánh cửa gỗ lim nặng nề bị gió biển ăn mòn, bong tróc từng mảng sơn đỏ ối. Mã Kiến Trung dừng lại trước hiên nhà, giọng nói vẫn điềm đạm.
“Phòng của mẹ con vẫn giữ nguyên từ lúc bà ấy đi. Bà con không ai dám vào dọn, sợ động chạm di vật. Con cứ nghỉ ngơi, chiều nay chúng ta sẽ làm lễ hạ huyệt.”
Nói xong, ông ta vẫy tay, đám đông lập tức tản ra, rút lui nhanh gọn và trật tự như một đội quân được huấn luyện bài bản. Bọn họ không muốn ở lại nơi này thêm một giây phút nào. Tôi nhìn theo bóng lưng bọn họ khuất sau sườn đồi, rồi quay lại tra chìa khóa vào ổ.
Cánh cửa rên rỉ mở ra. Mùi ẩm mốc, mùi bụi bặm và một thứ mùi hăng hắc như mùi rêu thối xộc thẳng vào mặt tôi. Ánh sáng mờ nhạt từ ô cửa sổ nhỏ hắt vào, rọi sáng một cảnh tượng khiến mạch máu toàn thân tôi như đông cứng lại.
Tôi đã chuẩn bị tâm lý để đối diện với một căn phòng bừa bộn của một người bệnh tâm thần. Nhưng thứ hiện ra trước mắt tôi không phải là sự bừa bộn thông thường. Đó là một sự điên loạn có hệ thống, một cơn ác mộng được mã hóa trên bốn bức tường.
Khắp các mặt tường, từ sát mép nền gạch cho đến tận xà nhà, phủ kín hàng trăm, hàng nghìn bức tranh vẽ chồng chéo lên nhau. Bà dùng mọi thứ có thể tạo ra màu sắc: phấn trắng, mực tàu đen ngòm, than củi, và cả những vệt màu nâu sẫm bong tróc mà tôi cắn chặt môi để không phải thừa nhận đó là máu khô.
Những bức tranh vẽ cảnh biển khơi cuồng nộ. Những tảng đá ngầm sắc nhọn đâm toạc thân tàu. Hình ảnh ngọn hải đăng đen ngòm vươn lên giữa bầu trời vần vũ. Và đáng sợ nhất, là vô số những hình người chìm nghỉm dưới làn nước sóng sánh. Bọn họ há hốc miệng, tay chới với vươn lên không trung, đôi mắt được tô bằng những chấm mực đen đặc quánh, vô hồn và tuyệt vọng.
Dân đảo kháo nhau rằng mẹ tôi là “con điên họ Trình”. Rằng từ sau đêm ông ngoại mất, bà bị quỷ biển nhập hồn, tối ngày chỉ biết nhốt mình trong phòng vẽ những thứ ma quái nguyền rủa hòn đảo. Khắp nền nhà vương vãi những mẩu phấn gãy vụn, những bát sứ sứt mẻ chứa cặn mực khô khốc. Chiếc giường gỗ ọp ẹp nơi góc phòng chất đầy những mảnh giấy nháp nhàu nát.
Tôi bước những bước chậm chạp vào giữa căn phòng, cảm giác như đang đi giữa một lăng mộ chứa đầy oán khí. Sự xót xa trào dâng nghẹn ắng nơi cổ họng. Suốt ngần ấy thời gian, mẹ tôi đã sống trong thứ địa ngục tâm trí tàn khốc này sao? Cơn đau đớn, sự cô độc của bà đã bào mòn ranh giới giữa thực tại và ảo giác, biến bà thành một cái bóng vật vờ bị cả hòn đảo khinh miệt. Nước mắt tôi rơi xuống, mặn chát. Tôi tự rủa xả bản thân mình. Nếu tôi dũng cảm hơn, nếu tôi dám phá vỡ lời dặn dò mà quay về đón bà đi, có lẽ bà đã không phải chết trong sự điên loạn tột cùng thế này.
Nhưng sự ủy mị chỉ tồn tại trong tôi đúng năm phút. Bản năng của một sinh viên khoa học tự nhiên nhanh chóng kéo tôi trở lại mặt đất. Tôi đưa tay quệt ngang nước mắt, tiến sát lại bức tường lớn nhất.
Có điều gì đó không đúng.
Sự hỗn loạn này quá mức đồng đều. Tôi híp mắt quan sát kỹ những hình người đang chìm lỉm trong tranh. Nét vẽ tuy nguệch ngoạc, run rẩy, nhưng chi tiết bàn tay của các nạn nhân lại được phóng to một cách kỳ dị. Bàn tay trái của người thứ nhất có ba ngón. Bàn tay phải có năm ngón. Nạn nhân tiếp theo có hai ngón và bốn ngón. Những con số liên tục biến đổi, hoàn toàn không tuân theo quy luật giải phẫu học cơ bản. Mẹ tôi từng là một giáo viên mỹ thuật cấp hai trước khi xảy ra biến cố, bà không thể vẽ sai cấu trúc cơ thể người một cách ấu trĩ như vậy, trừ khi… bà cố tình làm thế.
Tim tôi đập mạnh, dồn dập như tiếng trống trận. Tôi vội vã lật tung đồ đạc trong phòng, tìm kiếm bất cứ thứ gì có thể giải đáp nghi ngờ này. Tôi nhấc đệm giường, lục soát tủ quần áo mục nát, lật từng trang sách ố vàng. Không có gì cả. Mọi thứ chỉ là đồ dùng sinh hoạt cá nhân nhàu nhĩ. Cuối cùng, ánh mắt tôi dừng lại ở chiếc hòm gỗ long não cũ kỹ đặt dưới gầm giường. Đây là chiếc hòm ông ngoại từng dùng để đựng dụng cụ sửa chữa hải đăng.
Tôi kéo chiếc hòm ra giữa nhà.
Bên trong trống rỗng, chỉ còn mùi băng phiến nồng nặc. Nhưng khi tôi gõ nhẹ ngón tay xuống đáy hòm, âm thanh phát ra không phải là tiếng gỗ đặc trầm đục, mà là âm thanh rỗng tuếch của một khoảng không bên dưới. Một ngăn chứa bí mật.
Tôi tháo chiếc trâm cài tóc bằng kim loại, luồn vào khe hở nhỏ xíu góc đáy hòm, dùng sức nạy mạnh. Tấm ván gỗ mỏng bật tung lên, để lộ một khoang hẹp. Bên trong khoang chứa được bọc cẩn thận bằng vải dầu chống nước. Tay tôi run lên khi mở lớp vải.
Nằm im lìm bên trong là một chiếc la bàn hàng hải bằng đồng đã hoen gỉ, thứ vật bất ly thân của ông ngoại tôi khi còn sống. Và bên cạnh nó, là một cuộn giấy da cừu được cuộn chặt, buộc bằng dây bện. Tôi cẩn thận tháo sợi dây, trải phẳng tờ giấy lên mặt sàn.
Đó là một tấm hải đồ khu vực đảo Thanh Loa, được vẽ tay vô cùng chi tiết. Từng rạn san hô, từng dòng hải lưu, từng mỏm đá ngầm đều được ghi chú bằng nét chữ sắc sảo của ông ngoại. Nhưng điều khiến tôi rùng mình ớn lạnh, là trên tấm hải đồ ấy, có bảy vị trí được đánh dấu bằng những chữ thập màu đỏ chói lọi. Mực đỏ thấm sâu vào thớ giấy, tựa như những vết thương rỉ máu trên cơ thể đại dương. Bảy vị trí này nằm rải rác quanh đảo, nhưng đều hội tụ chung một đặc điểm: chúng nằm ngay trên các luồng lạch nước sâu, nơi tàu thuyền thường xuyên di chuyển qua lại để tránh bão.
Tôi ngẩng phắt đầu lên, nhìn chằm chằm vào bức tường đầy những hình người chết đuối. Các con số từ những ngón tay kỳ dị kia… ba mươi lăm, hai mươi tư, mười lăm… Nếu ghép chúng lại thành các cặp tọa độ kinh độ và vĩ độ, đối chiếu với lưới tọa độ trên tấm hải đồ của ông ngoại, liệu chúng có trùng khớp với bảy dấu chữ thập đỏ này không?
Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng, lan tỏa ra khắp tứ chi. Mẹ tôi không hề điên. Suốt mười bốn năm qua, dưới lớp vỏ bọc của một kẻ mất trí, bà đã kiên trì, nhẫn nhục, dùng chính sự điên loạn để che giấu một bản ghi chép tội ác khổng lồ. Bà biết có kẻ luôn theo dõi mình, bà biết bất cứ văn bản hay con chữ nào cũng sẽ bị phát hiện và tiêu hủy. Vì thế, bà mã hóa tất cả vào tranh vẽ. Bọn chúng tưởng bà vẽ ma quỷ để nguyền rủa, nhưng thực chất, bà đang vẽ lại bản đồ dẫn đến địa ngục.
Tang lễ buổi chiều diễn ra chóng vánh và đầy tính hình thức. Quan tài gỗ tạp được đưa ra bãi tha ma phía sau đồi, vùi lấp dưới lớp đất đá cằn cỗi. Mã Kiến Trung đọc điếu văn với giọng điệu trầm buồn, thê lương, lấy đi vài giọt nước mắt cá sấu của những người phụ nữ trong thôn. Tôi đứng đó, mặc áo tang trắng, vẻ mặt đờ đẫn, không khóc lấy một giọt. Người ngoài nhìn vào tưởng tôi vì quá sốc mà cạn khô nước mắt, nhưng thực chất, tâm trí tôi đang bận rộn sắp xếp lại toàn bộ dữ kiện.
Tôi đảo mắt quan sát kỹ Hạ Trọng Nghĩa. Xuyên suốt buổi lễ, ông ta luôn đứng lùi về phía sau, né tránh ánh mắt của mọi người, đặc biệt là ánh mắt của Mã Kiến Trung. Cái chân đi cà nhắc của ông ta liên tục dịch chuyển, bồn chồn một cách bất thường. Ông ta biết điều gì đó, một điều gì đó rất khủng khiếp liên quan đến cái chết của mẹ tôi và những dấu thập đỏ kia.
Đêm đầu tiên tôi ngủ lại trên đảo. Không khí đặc quánh hơi ẩm mặn chát. Ngôi nhà vắng lặng đến đáng sợ, chỉ có tiếng sóng biển vỗ vào vách đá ầm ầm như tiếng gầm gừ của một con dã thú khổng lồ đang rình mồi. Tôi không nằm trên chiếc giường cũ của mẹ, mà xách chăn trèo lên mái nhà bằng phẳng qua ô cửa sổ áp mái — thói quen từ thời thơ ấu mỗi khi tôi muốn trốn chạy khỏi những trận cãi vã của người lớn.
Gió biển rít lên từng hồi qua khe ngói. Bầu trời đêm đen kịt, không một vì sao, hệt như bị đổ ụp một chậu mực khổng lồ. Tôi quấn chặt chăn, mắt hướng về phía mũi đất phía Đông. Nơi đó, bóng dáng ngọn hải đăng cổ kính vươn cao sừng sững giữa màn đêm, đen ngòm và câm lặng. Ngọn đèn trên đỉnh tháp đã tắt ngúm suốt mười bốn năm qua, tựa như một con mắt mù lòa vô dụng.
Mã Kiến Trung từng nói, sau tai nạn của ông ngoại, hòn đảo không tìm được người thay thế canh đèn. Cộng thêm hệ thống định vị vệ tinh trên các tàu cá ngày càng hiện đại, ngọn hải đăng trở nên lỗi thời và bị bỏ hoang hoàn toàn. Quả chuông đồng khổng lồ dùng để cảnh báo sương mù treo ngoài ban công tháp cũng đã bị tháo dỡ để tránh gỉ sét. Khu vực đó trở thành cấm địa, không ai lai vãng tới.
Thế nhưng, ngay lúc kim đồng hồ chỉ đúng hai giờ sáng, một âm thanh trầm đục, vang dội xé toạc màn đêm.
Keng… Keng… Keng…
Tiếng chuông ngân dài, mang theo âm hưởng kim loại va đập nặng nề, vọng lại từ chính hướng ngọn hải đăng bỏ hoang. Âm thanh ấy không dồn dập, mà kéo dài, chậm rãi, thê lương như tiếng gọi hồn từ cõi chết.
Toàn thân tôi cứng đờ. Máu trong huyết quản như đóng băng. Tôi bật dậy, căng mắt nhìn về phía tháp đèn. Hoàn toàn tối đen. Không có ánh sáng, không có bóng người di chuyển. Khoảng cách từ nhà tôi đến hải đăng khoảng tám trăm mét đường chim bay, đủ xa để không nhìn rõ chi tiết, nhưng đủ gần để âm thanh truyền đến rõ mồn một. Tiếng chuông vang lên đúng ba nhịp, rồi chìm hẳn vào tiếng sóng biển gầm gào.
Tôi ngồi bó gối trên mái nhà, hàm răng va vào nhau lập cập. Nỗi sợ hãi nguyên thủy về thế giới tâm linh bóp nghẹt lồng ngực tôi. Lời đồn đại của dân đảo về linh hồn ông ngoại không siêu thoát, hằng đêm vẫn bám lấy ngọn tháp để gióng chuông oán hận, bất chợt ùa về rõ nét hơn bao giờ hết. Chẳng lẽ, thế giới này thực sự tồn tại ma quỷ?
Không. Sự sợ hãi chỉ kéo dài vài phút, trước khi tư duy logic của tôi giành lại quyền kiểm soát. Một quả chuông đồng nặng hàng trăm ki lô gam không thể tự nhiên phát ra âm thanh. Phải có lực tác động. Phải có cơ học. Nếu Mã Kiến Trung nói quả chuông đã bị tháo dỡ, vậy âm thanh vừa rồi phát ra từ đâu? Trừ khi, ông ta nói dối. Và nếu ông ta nói dối về một 디ều nhỏ nhặt như vậy, thì cả hòn đảo này đang che giấu một bí mật khổng lồ. Có kẻ cố tình tạo ra hiện tượng tâm linh này để đe dọa, ngăn cản bất cứ ai bén mảng đến ngọn hải đăng. Sự im lặng tập thể của người sống luôn đáng sợ hơn bất kỳ hồn ma nào dưới cõi âm.
Sáng hôm sau, tôi khoác thêm áo ấm, đi dọc theo con đường mòn duy nhất dẫn xuống khu chợ trung tâm đảo. Không khí buổi sáng ảm đạm, sương mù giăng mắc khắp các mái nhà. Vài người phụ nữ đang ngồi phân loại tôm cá trước hiên nhà, thấy tôi đi qua liền dừng tay, ném những ánh mắt dò xét.
Tôi ghé vào một quầy tạp hóa nhỏ, mua vài món đồ lặt vặt, rồi cố tình hạ giọng hỏi bà lão bán hàng.
“Bà ơi, đêm qua gió lớn quá, cháu trằn trọc không ngủ được. Tầm nửa đêm, cháu nghe thấy tiếng boong boong như tiếng chuông đồng vọng lại từ phía hải đăng. Bà có nghe thấy không ạ?”
Bà lão đang thoăn thoắt đếm tiền thối, nghe tôi hỏi liền khựng lại. Nụ cười xã giao trên môi bà ta tắt ngấm, thay vào đó là vẻ mặt cứng đờ, đôi mắt đục ngầu lóe lên một tia cảnh giác tột độ. Bà ta đẩy mạnh mớ tiền lẻ vào tay tôi, xua tay nhăn nhó.
“Giờ này làm gì có chuông với mõ nào! Chắc cô đi biển mệt quá sinh ảo giác đấy. Ngọn hải đăng đó bỏ hoang mười mấy năm rồi, chuông tháo đem bán sắt vụn từ đời nào. Cô đừng có nghe bậy nghe bạ rồi nói linh tinh, động tới thần linh biển cả là mang họa đấy!”
Nói rồi, bà ta quay ngoắt đi, dọn dẹp hàng hóa một cách thô bạo, rõ ràng là muốn đuổi khách. Tôi bước ra khỏi quán, đi ngang qua vài người dân khác, cố tình lặp lại câu hỏi tương tự. Câu trả lời tôi nhận được đều giống nhau y đúc, hệt như một kịch bản đã được học thuộc lòng từ trước. “Không nghe thấy”, “Ảo giác”, “Hồn ma ông ngoại mày hiện về”, “Đừng có tò mò”. Bọn họ đồng loạt thực hiện thao tác thao túng tâm lý, cố gắng thuyết phục tôi rằng bản thân tôi đang gặp vấn đề về thần kinh.
Sự đồng lòng một cách bất thường này càng củng cố giả thuyết trong đầu tôi: hòn đảo này là một pháo đài khép kín, và ngọn hải đăng chính là tử huyệt của bọn họ.
Tôi lững thững đi về phía bãi đá ngầm phía Tây đảo, nơi những vách đá bazan dựng đứng đâm thẳng xuống dòng nước biển đen ngòm. Khu vực này sóng đánh rất dữ dội, bọt tung trắng xóa, là nơi dòng hải lưu chảy xiết cuốn mọi vật trôi tuột ra ngoài khơi xa. Gió biển thổi tung mái tóc tôi rối bù. Tôi tìm một tảng đá khá bằng phẳng, ngồi bó gối, nhìn chằm chằm xuống vùng nước xoáy sâu thẳm. Nếu những tọa độ trên hải đồ của ông ngoại là thật, thì dưới đáy vùng biển này, đang chôn vùi thứ gì?
Tiếng sỏi lạo xạo vang lên rất nhẹ phía sau lưng. Bản năng mách bảo có người đang đến gần. Tôi xoay phắt người lại, tay vô thức luồn vào túi áo khoác nắm chặt con dao gọt hoa quả đã chuẩn bị sẵn.
