Ta lách mình vào trong, cẩn thận khép cửa lại.
Không gian bên trong tối om, nồng nặc mùi nhang muỗi và mùi mục nát. Ta lấy mồi lửa hỏa tát ra, thổi nhẹ, thắp sáng ngọn nến nhỏ mang theo bên mình.
Ánh nến leo lét bừng lên, soi rõ ba chữ lớn chạm trổ trên bức hoành phi treo giữa gian phòng: Bách Hoa Từ.
Đây là một nhà từ đường. Nhưng không phải thờ cúng tổ tiên họ Bạch.
Ta đưa ngọn nến đến gần bệ thờ khổng lồ thiết kế theo hình bậc thang vươn lên sát trần nhà. Trên đó, xếp hàng ngay ngắn là vô số những tấm bài vị bằng gỗ sơn đen, chữ khắc thếp vàng.
Ta đưa mắt đọc từng dòng chữ trên bài vị.
“Hoa Thần Nương đệ nhất, Liễu Yến Yến, mất năm Đại Yến thứ nhất.”
“Hoa Thần Nương đệ nhị, Trần Mạn Mạn, mất năm Đại Yến thứ hai.”
“Hoa Thần Nương đệ tam, Tôn Lệ, mất năm Đại Yến thứ ba.”
Ta bước dọc theo bệ thờ, ngón tay lướt qua từng tấm gỗ lạnh lẽo. Trái tim ta đập thình thịch trong lồng ngực, nhịp điệu dồn dập như gõ mõ. Ta đếm. Một chục. Hai chục. Năm chục. Tám chục.
Mỗi tấm bài vị là tên của một thiếu nữ. Và năm mất của bọn họ trùng khớp một cách hoàn hảo, tạo thành một chuỗi liên tiếp không đứt đoạn. Mỗi năm một người. Không thiếu một năm nào. Suốt gần một thế kỷ qua, thị trấn này duy trì sự thịnh vượng bằng cách hiến tế một tân nương tử mỗi năm.
Ta dừng lại ở bậc thang cao nhất.
“Hoa Thần Nương đệ cửu thập cửu, Vương Kiều Kiều, mất năm Đại Yến thứ chín mươi chín.”
Đó là năm ngoái.
Ngay bên cạnh tấm bài vị thứ chín mươi chín ấy, là một khoảng trống. Một vị trí được lau chùi sạch sẽ, chuẩn bị sẵn sàng để đặt lên tấm bài vị thứ một trăm.
Ta đứng chôn chân giữa nhà từ đường, hơi thở tắc nghẹn trong cổ họng, mồ hôi lạnh tuôn ra như tắm ướt đẫm cả lớp áo mỏng. Ngọn nến trong tay ta run rẩy kịch liệt, sáp nóng nhỏ giọt xuống mu bàn tay nhưng ta không cảm thấy đau đớn.
Mọi mảnh ghép rải rác bỗng chốc tựu trung lại thành một bức tranh tàn khốc và rõ ràng.
Lý do nhà họ Bạch không chọn những danh môn khuê các ở kinh thành, mà lại lặn lội tìm đến một gia tộc đã sa sút như nhà họ Hà. Lý do bọn họ nhấn mạnh yêu cầu cô dâu phải có “khí huyết vượng, phúc tướng đoan chính”. Lý do Bạch Lão Thái Quân nắm chặt tay ta, ánh mắt dò xét như nhìn một món hàng tế phẩm. Khí huyết vượng, là để nuôi dưỡng cái thứ hoa quỷ dị kia được lâu hơn. Phúc tướng đoan chính, là để xứng đáng làm vật tế dâng lên thần linh.
Bọn họ cưới ta về không phải để làm dâu. Bọn họ cưới ta về để lấp vào chỗ trống thứ một trăm này.
“…Thì ra là vậy. Một trăm năm. Một trăm mạng người.”
Ta lẩm bẩm, âm thanh nhỏ đến mức chỉ vương lại trên đầu lưỡi, nhưng lại sắc nhọn như cưaa cắt vào màng nhĩ chính mình. Sự sợ hãi tột cùng bỗng chốc chuyển hóa thành một ngọn lửa phẫn nộ cháy bùng trong lồng ngực. Bọn họ coi mạng sống của nữ nhân như cỏ rác, dùng máu thịt của mười mấy đời thiếu nữ để đổi lấy cái gọi là thiên đường hạ giới này.
Ta chậm rãi thổi tắt ngọn nến. Bóng tối một lần nữa nuốt chửng Bách Hoa Từ.
Ta quay người bước ra hướng cửa chính, bóng lưng thẳng tắp, đôi mắt Y Mục vô thức phát ra thứ ánh sáng nhạt lạnh lẽo.
Muốn dùng mạng của Hà Thanh Nguyệt ta để đổi lấy vinh hoa phú quý sao?
Ta khẽ nhếch mép cười gằn. Vậy thì để xem, là cái Đào Nguyên Trấn này nuốt trọn được ta, hay là ta sẽ xới tung cái từ đường này, đào tận gốc trốc tận rễ cái thứ Hoa Thần khốn khiếp kia lên. Trò chơi sinh tử này, bây giờ mới thực sự bắt đầu.
Trời vừa hửng sáng, sương mù trên đỉnh núi còn chưa kịp tan, tiếng chim hót líu lo đã vang vọng khắp Đào Nguyên Trấn. Ánh nắng ban mai xuyên qua lớp giấy dán cửa sổ, hắt những vệt sáng lốm đốm lên sàn gỗ lim. Nếu là một khuê nữ bình thường, chắc hẳn sẽ thấy khung cảnh này thật thanh bình, êm ả. Nhưng với ta, tiếng chim hót kia nghe chẳng khác nào tiếng kèn đưa đám, còn ánh nắng rực rỡ ngoài kia chỉ là lớp phấn son trát lên một cái xác chết đang thối rữa.
Ta ngồi trước bàn trang điểm, cầm chiếc lược sừng chải vuốt mái tóc dài. Trong gương đồng, gương mặt ta tĩnh lặng như mặt nước giếng khơi. Không hoảng loạn. Không rơi lệ. Sau cái đêm kinh hoàng tại Bách Hoa Từ, ta đã hiểu ra một chân lý vô cùng đơn giản: ở cái chốn địa ngục trần gian này, sợ hãi là một thứ vô dụng nhất. Kẻ thù của ta không phải là một bầy thú dữ để ta có thể vác dao ra chém giết, mà là một mạng lưới giăng sẵn, một cái bẫy khổng lồ được ngụy trang bằng nụ cười từ bi và những lời chúc tụng ngọt ngào.
Bạch Vĩnh Niên đẩy cửa bước vào.
Hắn bưng theo một kháo nước ấm, vắt sẵn chiếc khăn lụa trắng muốt, dịu dàng đi tới bên cạnh ta. Gương mặt tuấn tú của hắn tràn ngập sự sủng ái, hệt như một người chồng hoàn hảo bước ra từ trong thi ca. Nhưng khi hắn đến gần, đôi Y Mục của ta lập tức tự động vận hành. Xuyên qua lớp áo gấm đắt tiền, ta nhìn thấy rõ mồn một cảnh tượng rùng rợn bên trong cơ thể hắn. Nửa thân trên của hắn, máu đỏ vẫn chảy, tim vẫn đập, nhưng từ thắt lưng trở xuống, toàn bộ kinh mạch đã chuyển sang một màu đen đặc quánh. Tử khí bốc lên ngùn ngụt. Đáng sợ nhất là nụ hoa đen kịt cắm rễ ngay giữa buồng tim hắn, từng nhịp đập của trái tim lại bơm ra thứ dịch nhầy màu xanh lục, len lỏi vào từng ngóc ngách trong huyết quản, giữ cho cái khung xương mục nát kia có thể đứng thẳng và mỉm cười.
“Nguyệt Nhi, nàng dậy sớm vậy? Đêm qua ngủ có ngon giấc không?”
Giọng nói của hắn trầm ấm, êm tai vô cùng. Ta nhận lấy chiếc khăn, khẽ lau mặt, khóe môi nhếch lên một nụ cười đoan trang đúng chuẩn dâu hiền.
“Đa tạ phu quân quan tâm. Thiếp ngủ rất say. Ở Đào Nguyên Trấn không khí trong lành, quả thực khiến người ta an lòng.”
Hắn vươn tay định vuốt tóc ta. Ta khéo léo nghiêng đầu giả vờ cất chiếc lược, tránh né cái chạm của hắn. Bàn tay khô lạnh, thoang thoảng mùi nấm mốc giấu dưới hương đào đặc trưng ấy, nếu chạm vào da thịt ta lúc này, ta sợ mình sẽ không nhịn được mà nôn mửa. Bạch Vĩnh Niên hơi khựng lại, nhưng rất nhanh bèn thu tay về, mỉm cười ôn nhu dặn dò ta vài câu rồi bước ra ngoài lo việc nha môn.
Khi bóng hắn vừa khuất sau khuôn viên, Bích Nha từ ngoài cửa lách nhanh vào phòng. Sắc mặt con bé tái mét, trán lấm tấm mồ hôi hột, hơi thở gấp gáp như vừa bị ma đuổi. Nó vội vã đóng chặt cửa lại, chạy đến bên cạnh ta, giọng run lẩy bẩy:
“Tiểu thư… phu nhân… không xong rồi! Nô tỳ nghe lời người, canh lúc trời chưa sáng rõ đã lẻn ra ngoài tìm đường dời khỏi trấn. Nô tỳ đi dọc theo con đường mòn hướng Bắc, rõ ràng đã đi ra khỏi cổng tảng đá lớn, cứ cắm đầu chạy thẳng một mạch. Nhưng mà…”
Ta rót một chén trà lạnh, đẩy về phía nó:
“Uống ngụm nước đi rồi nói tiếp. Ngươi gặp quỷ đả tường sao?”
Bích Nha run rẩy bưng chén trà uống ực một cái, gật đầu lia lịa:
“Đúng vậy! Nô tỳ chạy đến lúc thở không ra hơi, sương mù tự nhiên dày đặc bủa vây. Chớp mắt một cái, sương tan đi, nô tỳ lại thấy mình đang đứng ngay trước cửa hàng bán thịt lợn ở chợ trung tâm trấn! Nô tỳ không tin tà, thử chuyển sang hướng Nam, hướng Tây, thậm chí trèo qua sườn núi phía Đông. Nhưng cứ đi đến rìa thung lũng, nơi có mấy cây bách thụ khổng lồ rễ cuộn vào nhau chặn lối, là sương mù lại kéo đến. Chớp mắt sau, nô tỳ lại quay về đứng giữa chợ! Chúng ta bị nhốt rồi tiểu thư ơi! Chỗ này vào được, nhưng không thể ra được!”
Ta gõ gõ ngón tay trỏ xuống mặt bàn gỗ. Quả nhiên không nằm ngoài dự đoán. Bọn họ bỏ ra bao nhiêu tâm tư sính lễ để rước một tế phẩm thứ một trăm về đây, làm sao có thể để cổng ngỏ toang hoác cho tế phẩm bỏ trốn. Cái thung lũng này vốn dĩ là một trận pháp khổng lồ, hoặc có thể nói, toàn bộ mảnh đất này đang sống, và nó không cho phép bất cứ con mồi nào thoát khỏi cái dạ dày của mình.
“Bình tĩnh. Ngươi khóc lóc hoảng sợ lúc này chỉ tổ làm mồi ngon cho bọn họ.”
Ta đứng dậy, mở hòm thuốc gỗ lim gia truyền, lấy ra một lọ sứ nhỏ giấu vào trong ống tay áo, rồi dắt thêm con dao găm vào chiếc ủng da.
“Lát nữa tổ mẫu gọi, ngươi cứ bảo ta thấy trong người hơi bức bối, muốn ra phía sau núi hái ít thảo dược xông phòng. Nhớ kỹ, ai hỏi gì cũng nở nụ cười, coi như không có chuyện gì xảy ra. Mạng của chúng ta bây giờ treo trên một sợi chỉ, đứt hay không phụ thuộc vào việc chúng ta diễn kịch giỏi đến mức nào.”
Ta cầm giỏ mây, một mình đi men theo con đường nhỏ dẫn ra khu vực sườn đồi phía Tây. Nơi này ít người qua lại, cỏ dại mọc um tùm, xen lẫn những gốc đào già cỗi. Ta vừa đi vừa vận dụng Y Mục quan sát vạn vật xung quanh. Càng đi sát ra phía rìa thung lũng, ta càng nhận thấy một luồng khí tức kỳ lạ. Đất đai ở đây không tỏa ra sinh khí tươi mát của tự nhiên, mà bốc lên một luồng oán khí dính ngáp, đỏ bầm, đan xen chằng chịt dưới lòng đất như mạng lưới mạch máu của một con quái vật khổng lồ.
Đang mải mê phân tích đường đi của luồng khí đỏ, mũi ta chợt ngửi thấy một mùi tanh tưởi thoang thoảng lẫn trong hương hoa đào. Đó là mùi máu người tươi. Rất mới.
Ta lập tức dừng bước, tay phải luồn vào ống tay áo nắm chặt lấy ba cây ngân châm. Ta rón rén bước về phía bụi cỏ lau cao ngập đầu người, dùng mũi giày gạt nhẹ đám lá khô.
Nằm cuộn tròn dưới gốc cây khô là một nam nhân mặc áo đạo bào màu xám tro. Tóc tai hắn rũ rượi, bết dính mồ hôi và bùn đất. Ở mạn sườn trái của hắn có một vết chém sâu hoắm, máu tuôn ra nhuộm đỏ cả một mảng vải. Hắn đang nhắm nghiền mắt, hơi thở thoi thóp, tay phải vẫn nắm chặt một thanh kiếm gỗ đào đã gãy làm đôi.
Ta nhíu mày. Một kẻ lạ mặt. Người trong Đào Nguyên Trấn không ai ăn mặc thế này, và quan trọng nhất, người trong trấn nếu bị thương, máu chảy ra sẽ có màu hồng nhạt và bốc mùi hoa đào, chứ không phải thứ máu đỏ tươi tanh nồng mùi tử khí của nhân loại bình thường.
Ta quỳ một chân xuống, vừa định vươn tay bắt mạch thì nam nhân kia đột ngột mở bừng mắt. Tốc độ của hắn nhanh như chớp, bàn tay đầy máu vung lên, lưỡi kiếm gỗ gãy kề sát ngay cổ họng ta. Ánh mắt hắn lạnh lẽo, sắc bén như loài sói hoang bị dồn vào đường cùng.
“Yêu nghiệt phương nào? Đừng cậy nơi này là địa bàn của các người mà làm càn. Cố Diễm Thành ta dù có chết cũng phải kéo theo vài con đệm lưng!”
Hắn gằn từng chữ, nhưng giọng nói yếu ớt, hơi thở đứt quãng chứng tỏ hắn đã kiệt sức hoàn toàn. Ta thản nhiên rũ mắt nhìn thanh kiếm gỗ kề sát cổ mình, không hề lùi lại nửa bước. Tay phải ta vung nhẹ, ba cây ngân châm cắm phập vào ba huyệt đạo trên cánh tay cầm kiếm của hắn.
Cố Diễm Thành rên lên một tiếng nghẹn ngào, cánh tay tê rần, thanh kiếm rơi tuột xuống bãi cỏ.
Ta phủi phủi lớp bụi trên tà váy, lạnh lùng đáp trả:
“Nếu ta là yêu nghiệt, đạo trưởng Cố Diễm Thành ngài đã sớm biến thành phân bón cho gốc cây đào này rồi, làm gì còn sức mà kề kiếm vào cổ ta. Ta là người. Hơn nữa, là một đại phu có thể giữ lại cái mạng quèn này cho ngài.”
Hắn trừng mắt nhìn ta, sự cảnh giác vẫn không hề giảm bớt. Ta dùng Y Mục quét qua toàn bộ cơ thể hắn. Quả nhiên, một con người sống sờ sờ, kinh mạch lưu thông bình thường, không có lấy một tia vân hoa đỏ thẫm nào bám víu. Giữa cái thị trấn đầy rẫy những xác sống bù nhìn này, việc tìm thấy một con người bình thường khiến ta có chút đồng cảm kỳ lạ.
Ta lấy từ trong hòm thuốc ra một lọ kim sang dược, không nói không rằng, xé toạc lớp áo quanh vết thương của hắn, rắc bột thuốc lên rồi dùng băng vải quấn chặt lại. Động tác của ta nhanh gọn, dứt khoát, mang theo mười phần thô bạo khiến Cố Diễm Thành nhăn mặt vì đau đớn, nhưng hắn cắn răng không phát ra tiếng kêu nào.
“Ngươi… không phải người của trấn này?”
Hắn thở hắt ra một hơi, ánh mắt dò xét nhìn khuôn mặt ta.
Ta cất lọ thuốc, lấy khăn tay lau vết máu dính trên ngón tay, nhạt nhẽo trả lời:
“Ta là tân nương tử vừa được gả vào phủ Huyện lệnh ba ngày trước. Nói chính xác hơn, ta là vật hiến tế thứ một trăm mà bọn họ vừa mua về. Thế nào? Đạo trưởng từ bên ngoài xông vào đây, chắc hẳn biết chút ít về cái hang quỷ này chứ?”
Cố Diễm Thành sững người mất ba giây, sau đó khóe môi hắn cong lên tạo thành một nụ cười khổ sở xen lẫn chua chát.
“Vật hiến tế thứ một trăm… Thì ra bọn chúng đã chuẩn bị xong cả rồi. Cô nương, cô to gan thật đấy, biết mình là tế phẩm mà vẫn còn tâm trí đi cứu một kẻ xa lạ.”
“Bớt nói nhảm đi.”
Ta ngắt lời hắn, ánh mắt sắc như dao găm.
“Ta cứu ngài không phải vì ta là Bồ Tát sống. Ta cần thông tin. Ngài vào được đây bằng cách nào? Và thứ đang khống chế cái thị trấn này rốt cuộc là yêu ma quỷ quái phương nào?”
Cố Diễm Thành dựa lưng vào thân cây, đưa tay ôm lấy sườn trái. Hắn nhìn quanh quất, xác nhận không có ai theo dõi mới đè thấp giọng, bắt đầu kể lại nguồn cơn.
Hắn nói, thứ đang biến toàn bộ Đào Nguyên Trấn thành địa ngục này có tên là Hoa Mị. Một trăm năm trước, nơi này vốn dĩ khô cằn sỏi đá. Tổ tiên của nhà họ Bạch đã bắt một thiếu nữ mang linh căn thiên sinh tên là Liễu Yến Yến, ép gả làm thiếp. Khi bòn rút cạn kiệt linh lực của nàng ta, tên súc sinh họ Bạch kia đã dùng tà thuật mua từ phường vu cổ, chôn sống Liễu Yến Yến dưới gốc cây đào ngay chính giữa trung tâm trấn. Hắn biến nàng thành Địa Mạch Tâm, dùng sinh mạng và oán niệm của nàng để trói buộc mạch đất, ép thổ nhưỡng xung quanh phải sinh sôi nảy nở.
Nhưng cái giá phải trả cho tà thuật là máu. Mỗi năm, nhà họ Bạch phải chọn một thiếu nữ trẻ hiến tế, chôn sống để tiếp thêm chất dinh dưỡng cho Địa Mạch Tâm. Qua chín mươi chín đời cô dâu bị chôn sống, oán niệm tích tụ quá lớn, vượt tầm kiểm soát. Nó tự sinh ra ý thức, nhập vào thân xác gốc của Liễu Yến Yến, hóa thành Hoa Mị. Thứ quái vật này không còn là Yến Yến nữa, nó là một khối oán hận khổng lồ mang hình dáng thực vật. Nó kiểm soát toàn bộ đất đai, cây cỏ trong thung lũng, biến người dân thành Hoa Nô để phục vụ nó.
“Nó cần đúng một trăm cô dâu để hoàn thiện thể xác.”
Giọng Cố Diễm Thành trầm xuống, mang theo hơi lạnh buốt xương.
“Chỉ cần nuốt trọn tế phẩm thứ một trăm, phong ấn của thung lũng này sẽ vỡ nát. Khi đó, Hoa Mị sẽ mang cái vườn hoa địa ngục của nó tràn ra khắp thế gian. Ta đến đây là để tìm sư muội ta. Con bé bị bắt cóc ba năm trước, bị đem bán làm tế phẩm. Ta men theo đường nước của con suối ngầm dưới chân núi mới lọt được vào đây, bởi vì nước chảy là thứ duy nhất Hoa Mị không thể thao túng.”
Ta nghe xong, trong lòng dâng lên một cơn sóng trào dữ dội, nhưng bề ngoài vẫn duy trì vẻ lạnh nhạt. Thì ra là vậy. Chẳng trách cái trấn này phồn vinh đến mức dị thường. Mọi hạt gạo, mọi bông hoa đào ở đây đều được tưới tắm bằng máu tươi và sự tuyệt vọng của nữ nhân.
“Nếu đã biết nó là thứ gì, vậy đạo trưởng có cách nào băm vằm nó ra không?”
Ta hỏi thẳng vào vấn đề cốt lõi.
Cố Diễm Thành ho khan vài tiếng, nhổ ra một ngụm máu bầm, lắc đầu:
“Một mình ta thì không. Tối qua ta thử tiếp cận gốc Hoa Thần Mộc giữa trấn để tìm vị trí phá trận, kết quả bị rễ cây của nó đánh lén trọng thương. Muốn giết nó, phải đào được thân xác gốc của Liễu Yến Yến lên, thực hiện nghi thức siêu độ vong linh để rút cạn oán khí. Nhưng trước khi ta kịp niệm chú xong, hàng vạn cái rễ cây sẽ xé xác ta thành trăm mảnh.”
“Nghĩa là ngài cần người yểm trợ.”
Ta nhặt chiếc giỏ mây lên, phủi nhẹ lớp lá khô bám trên quai giỏ.
“Được. Ngài lo phần pháp thuật tâm linh của ngài, ta sẽ lo phần đối phó vật lý. Chúng ta hợp tác. Ngài cứ trốn tạm ở cái hang đá sau rặng lau này, mỗi đêm ta sẽ sai tỳ nữ mang thức ăn và thuốc trị thương ra cho ngài. Chuẩn bị cho tốt đi, Cố đạo trưởng. Trận chiến này, không phải nó chết thì là chúng ta mất mạng.”
Nói xong, ta quay người bước đi, không buồn quay đầu lại.
Vừa bước chân vào đến cửa phủ họ Bạch, quản gia đã đứng chắp tay chờ sẵn, vẻ mặt cung kính nhưng ánh mắt lại lạnh lẽo như rắn độc:
“Thiếu phu nhân, Lão Thái Quân đang đợi người ở chính sảnh. Mời người qua đó dùng trà.”
Ta siết chặt quai giỏ mây, gật đầu mỉm cười. Màn kịch lại bắt đầu.
Trong chính sảnh, Bạch Lão Thái Quân ngồi xếp bằng trên sập gụ, tay gõ nhịp gậy đầu rồng, hương trầm nghi ngút tỏa ra từ chiếc lư đồng hình thú. Bà ta mặc một bộ áo gấm thêu hoa mẫu đơn, nốt chu sa đỏ chót trên trán rực lên dưới ánh sáng mờ ảo, trông vừa uy nghiêm lại vừa quỷ dị.
Ta bước vào, kính cẩn hành lễ. Bà ta vẫy tay gọi ta đến ngồi cạnh, tự tay rót một chén trà nụ hoa đào đưa cho ta. Mùi nấm mốc quen thuộc từ người bà ta lại xộc thẳng vào mũi ta, nồng nặc hơn bao giờ hết.
“Cháu dâu à, con gả vào nhà họ Bạch chúng ta cũng được mấy ngày rồi. Có thấy quen với nếp sống ở Đào Nguyên Trấn chưa?”
“Đa tạ tổ mẫu quan tâm, mọi người đối xử với cháu dâu vô cùng tốt. Nơi này quả thực là chốn bồng lai tiên cảnh.”
Ta nhận chén trà, mỉm cười đáp lời, giả vờ nhấp một ngụm nhưng thực chất dùng đầu lưỡi đẩy nước trà vào khe má.
Bà lão hài lòng gật gù, vuốt ve viên ngọc lục bảo trên ngón tay cái, chậm rãi nói:
“Quen là tốt. Quen là tốt. Bảy ngày nữa, Đào Nguyên Trấn sẽ tổ chức Hoa Đăng Tiết. Đây là lễ hội lớn nhất trong năm của chúng ta, nhằm tạ ơn Hoa Thần đã che chở cho mưa thuận gió hòa. Năm nay, ta đã quyết định, chọn con làm Hoa Thần Nương, thay mặt toàn bộ dân trấn dâng hương lên thần linh. Đây là vinh dự vô thượng, con phải chuẩn bị cho thật tốt.”
Lời vừa dứt, một cơn đau nhói buốt đột ngột truyền đến từ cổ tay trái của ta, giống như có hàng vạn con kiến lửa đồng loạt cắn xé. Ta khẽ rùng mình, cúi đầu nhìn xuống. Xuyên qua lớp lụa mỏng của ống tay áo, ta kinh hoàng phát hiện ra… dưới làn da trắng nhợt nhạt của mình, một nụ hoa đào bé xíu bằng hạt đậu đã bắt đầu nứt ra. Những sợi vân đỏ thẫm mỏng như sợi tóc đang từ từ lan tỏa, bám chặt vào tĩnh mạch của ta.
Hoa Mị đã đánh dấu ta. Từ lúc nào? Là chén trà này? Hay là lúc bà ta nắm tay ta trong đêm tân hôn? Không quan trọng nữa. Đồng hồ đếm ngược đã chính thức bắt đầu. Cố Diễm Thành đã nói, khi bị đánh dấu, hoa sẽ nở dần trong bảy ngày. Ngày thứ bảy, toàn thân sẽ bị rễ hoa bao phủ, triệt để biến thành Hoa Nô vô tri vô giác. Trùng khớp hoàn hảo với thời điểm Hoa Đăng Tiết.
Trái tim ta đập loạn nhịp, mồ hôi lạnh toát ra ướt đẫm lòng bàn tay. Nỗi sợ hãi nguyên thủy nhất của con người khi đối diện với cái chết bóp nghẹt lấy cổ họng ta. Nhưng ta cắn chặt môi dưới, dùng sự đau đớn để ép bản thân tỉnh táo. Ta ngẩng đầu lên, đối diện với ánh mắt sắc như dao cạo của bà lão, khóe môi dãn ra thành một nụ cười rạng rỡ nhất, hoàn mỹ nhất.
“Được tổ mẫu tín nhiệm, cháu dâu thật sự vô cùng cảm kích. Xin tổ mẫu yên tâm, cháu dâu nhất định sẽ chuẩn bị chu toàn, tuyệt đối không làm mất mặt nhà họ Bạch, cũng không phụ lòng… Hoa Thần.”
Bạch Lão Thái Quân cười thành tiếng, âm thanh the thé vang vọng khắp gian sảnh rộng lớn. Bà ta phẩy tay cho ta lui. Ta đứng dậy, bước chân vững vàng đi ra khỏi cửa, nhưng vừa rẽ qua hành lang khuất tầm nhìn, ta phải vịn chặt vào cột đình để khỏi ngã quỵ. Ta đưa tay sờ lên nụ hoa đang cộm lên dưới da. Nó đang đập, từng nhịp, từng nhịp, đồng điệu với nhịp tim của ta.
Bọn họ muốn dùng mạng của Hà Thanh Nguyệt này để làm phân bón? Nằm mơ đi. Ta thà tự tay thiêu rụi cái thung lũng này thành tro bụi, chứ tuyệt đối không làm trâu ngựa cho bất kỳ kẻ nào.
Đêm hôm đó, trăng sáng vằng vặc. Ta ngồi lặng lẽ trong phòng, dùng kim ngân châm hơ qua ngọn lửa, châm cứu vào các huyệt đạo quanh cổ tay để phong bế luồng khí huyết, làm chậm tốc độ phát triển của nụ hoa.
Cửa phòng đột ngột bị đẩy ra. Bạch Vĩnh Niên bước vào. Hắn không bưng trà, không cười ôn nhu, cũng không trưng ra cái dáng vẻ phu quân mẫu mực như mọi khi. Hắn lảo đảo bước tới, gương mặt tái nhợt, đôi mắt đỏ ngầu ngấn lệ. Hắn ngã khuỵu xuống bên cạnh ghế của ta, vùi mặt vào hai bàn tay, khóc nấc lên.
“Nguyệt Nhi… ta xin lỗi… ta thực sự xin lỗi nàng…”
Ta dừng tay, lạnh lùng rút cây kim bạc ra khỏi da, lấy khăn lau sạch vết máu. Đôi Y Mục của ta nhìn chằm chằm vào nụ hoa đen trên ngực hắn. Nó đang co bóp mạnh mẽ, truyền thứ dịch xanh lục đi khắp cơ thể hắn.
“Phu quân đêm hôm khuya khoắt chạy sang phòng thiếp khóc lóc, là có ý gì? Chẳng lẽ lại hối hận vì đã rước thiếp về?”
Ta cất giọng đều đều, không chứa đựng một tia cảm xúc.
Bạch Vĩnh Niên ngẩng đầu lên, nắm lấy vạt áo ta, giọng nghẹn ngào tuyệt vọng:
